Truyện Ma – Cái Chết Bí Ẩn

Share:

Cái Chết Bí Ẩn


Trong đám tang thằng cu Hoàng, bà Sáu cứ ngất đi sống lại.Người ta tiêm cho bà không biết bao nhieu là mũi trợ tim, không thì bà đã đi theo nó rồi. Ông Sáu dỉu bà về nhà để bà nghỉ ngơi, tác khỏi tiếng trống kèn inh ỏi, nhưng nào có yên, nhà bà ngay sát với nhà thằng cu Hoàng. Bà khổ sở, đau đớn, dằn vặt mấy hôm mà trông bà già đi nhiều quá. Mẹ thằng cu Hoàng cũng vậy, cứ tỉnh rồi lại ngất. Lúc đưa thằng cu Hoàng cũng vậy, cứ tỉnh rồi lại ngất. Lúc đưa thằng cu Hoàng ra ngoài đồng, trời mưa to, đường lầy lội đến khổ. Mẹ thằng cu Hoàng và bà Sáu luôn có người túc trực ở bên không thể đưa nó đi được.

- Không! Tất cả là tại tôi! Tại tôi! Sao tôi không chết đi cho thằng Hoàng nó sống.
Bà Sáu cứ gào lên những câu kiểu như vậy. Những tiếng kêu rên thảm thiết của bà khiến cho những ai có mặt trong đam tang vừa giận vừa thương bà. Có người lo xa, rồi sau đám tang, không biết quan hệ giữa nhà bà với gia đình thằng cu Hoàng sẽ ra sao.
Số là hôm đó, chị Tính – mẹ cu Hoàng chạy vội ra chợ mua thêm một ít cua chiều nấu canh nên nhờ bà Sáu trông hộ thằng Hoàng. Thằng bé bụ bẫm, thông minh, hiếu động, ai cũng yêu quý nó, đặc biệt ông bà Sáu gần 50 tuổi rồi mà chưa một lần được làm cho, làm mẹ.
- Ừ. Cứ để đấy, chị trông cho. Tiện thể mua cho chị mớ rau cải.
- Vâng. Bác trông hộ. Em về ngay thôi.
Thằng Hoàng cũng quý bà Sáu nên không đòi đi theo, nó cứ quẩn quanh bên cạnh nên bà Sáu cũng thoải mái theo dõi bộ phim yêu thích trên vtv.
- Chị Sáu ơi, hết rau rồi chị ạ. Chị cho em xin thằng cu Hoàng.
- Ơ, nó vừa ở đây mà, Hoàng ơi, Hoàng…

Hai người đàn bà cuống quýt đi tìm thằng bé. Gọi mãi, gọi mãi không có tiếng trả lời, chị Tính bắt đầu sụt sùi… Bà Sáu khó xử và lo lắng nhờ hết người này đến người kia đi tìm mà chẳng thấy thằng bé đâu.
Ông Sáu cũng dậy từ sớm để bắt đầu cuộc tìm kiếm mới. Khi ông vừa đặt chân ra bờ ao thì thấy xác thằng Hoàng nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Có lẽ cảnh tượng này sẽ ám ảnh ông suốt cuộc đời còn lại. Ông suýt ngất đi, mãi mới gọi người đến vớt nó lên. Thật tội nghiệp cho nó, người trương phình lên, mặt trắng như trát vôi bột, hai mắt thao láo nó nằm thẳng đuột trên bờ ao. Người ta cố tìm cho nó một cái khăn trắng để đắp lên cái thi thể. Chưa ai dám bảo cho chị Tính. Chỉ có bà Sáu, bà vuốt mắt cho nó, rồi lăn đùng ra.

Thằng Hoàng mới bốn tuổi. Theo luật lệ ở làng trong đám ma không được dùng trống kèn, vì nó chưa thành người lớn và phài đi chôn ngay vì nó chết từ mất hôm nay rồi. Nhưng trước nỗi đau quá lớn và đột ngột của gia đình, người ta vẫn cho dùng trống kèn để linh hồn nó được siêu thoát.
Sau ba ngày thằng Hoàng, gia đình ông Sáu sang an ủi cũng như muốn có trách nhiệm trước cái chết của thằng Hoàng. Nhìn cái thân hình gầy sọp đau đớn của bà Sáu, chị Tính nấc lên từng tiếng rồi ôm lấy bà Sáu, hai người đàn bà khóc đến khàn cả tiếng. Nhìn cảnh thương tâm tóc trắng tiễn tóc xanh ai cũng đau lòng…
Gọi bằng bà Sáu nhưng thực ra bà củng mới xấp xỉ 50 tuổi, ông Sáu hơn bà một tuổi. Ông bà luôn ao ước có một đứa con dù trai hay gái củng được, ngày trước thằng cu Hoàng còn sống còn có người tíu tít bên cạnh giờ nó không còn nữa nên ông bà cũng buồn. Giờ biết mình mang thai bà vui mừng khôn tả xiết, thực ra lúc còn trẻ bà cũng mang thai hai lần nhưng cứ đến tháng thứ hai là không giữ được. Bà sợ lần này cũng vậy.
Thời gian gần đây không hiểu sức khỏe yếu hay do lo lắng điều gì mà bà hay nằm mơ, bà mơ thấy đứa con của bà, rồi bà lại mơ thấy thằng cu Hoàng. Ông Sáu tỏ ra lo lắng cho sức khỏe của bà Sáu:

- Hay để mai tôi nhờ người đưa bà xuống viện xem thế nào.
- Ui da! Ông cứ phải lo bò trắng răng, trong người tôi thế nào tôi biết chứ.
Ông bà cứ ngồi tranh luận mãi vấn đề đưa bà xuống viện khám.
Đêm mùa hè trăng thanh gió mát, bà khó ngủ nên dậy đi vệ sinh. Vừa bước ra đến hè, bà thấy thằng cu Hoàng đang ngồi ở bậc hè chờ bà, nó dựa vào cái cột, ngồi đó. Đúng nó rồi, lúc còn sống nó cũng hay ngồi như vậy chơi với ocn mèo đen nhà bà.
- Hoàng ơi, Hoàng ơi! Có phải Hoàng không?
Bà tiến đến gần chỗ thằng Hoàng ngồi. Nó cứ ngồi đó, không trả lời bà cũng không biến mất.
- Hoàng! Bà có lỗi với cháu… cháu hãy…
Bà tiến sát đến, nó vẫn ngồi đó. Bà không nhìn thấy khuôn mặt Hoàng, vì nó đang hướng thẳng về phía bờ ao quay lưng lại phía bà.
- Hoàng, cháu về tìm bà phải không? Cháu hãy tha lỗi cho bà.
Thằng cu Hoàng quay mặt lại nhìn bà. Một khuôn mặt trẻ con gớm ghiếc, không thấy mắt đâu chỉ thấy hai hốc mắt tối om, khuôn mặt nó đang bị biến dạng, không còn ra hình thù gì nữa. Nó nhìn bà rồi biến mất vào trong đêm tối, bà chỉ kịp hét lên.
- Không! Không phải thằng Hoàng.
Ông Sáu trong nhà nghe tiếng hét giật mình, tỉnh ngủ chạy ra thấy bà lồm cồm ngoài hè liền hốt hoảng dìu bà vào nhà.
- Bà ra đó làm gì? Tôi đã dặn bà đi đâu buổi tối phải có tôi đi cùng cơ mà.
Không để ông Sáu phải lo lắng thêm, bà đành nói dối.
- Tôi đi vệ sinh, nhưng ra đến đây bị vấp nên ngã. Ông không phải lo lắng thế đâu.

Bà biết đó là thằng Hoàng. Nó về để bắt bà đền tội. Chính bà đã gây ra cái chết của nó, giờ nó về để đòi mạng. Bà cũng không tiếc cái thân già này chỉ mong đứa con trong bụng chào đời là bà sẵn sàng đi với thằng Hoàng, vì bà sống cũng đâu có hơn gì chết, bà dằn vặt khổ sở từ khi thằng Hoàng chết.
Hôm đó, ông Sáu về quê có đám giỗ, ông không yên tâm nên nhờ đứa cháu sang ngủ với bà, đêm hôm lỡ đâu… Sắp đến lúc sinh bà cũng khó ngủ, đêm bà cứ trằn trọc, rồi bà nghe tiếng trẻ con khóc thảm thiết ai oán, nghe tiếng kêu rên từ phía bờ ao. Bà nghe có tiếng kêu lạnh lắm. Cầm đèn pin ra phía bờ ao, tiếng kêu rên không còn nữa, bà lia đèn khắp phía nhưng không có ai. Mà có ai được chứ giữa đêm hôm khuya khoắt thế này. Bỗng bà giật mình dùng đèn lại trên mặt nước ở giữa ao. Trên mặt nước sóng sánh, bà nhìn thấy một cái xác chết, khuôn mặt lại bị biến dạng, không nhìn rõ mặt mũi của ai. Bà kêu lên. Hàng xóm biết ông Sáu không có nhà nên nghe tiếng bà hết mọi người kéo sang.

- Không! Không có gì, đèn pin bị cháy sợ ngã nên tôi gọi đứa cháu trong nhà.
- Thật không có chuyện gì chứ chị Sáu, nếu vậy thì chúng tôi về đây.
Nhưng bà biết đó là thằng Hoàng nó lại về dọa bà, đòi mạng bà vì chính bà là nguyên nhân gây ra cái chết của nó. Giá bà cẩn thận hơn một chút thì thằng Hoàng đã không chết oan đến nỗi không nhắm mắt. Lỗi là do bà nên bà không thể kể cho ai kể cả chị Tính hay ông Sáu. Bà cố gắng sinh con xong rồi đi gặp thằng Hoàng trả nợ cho nó.

Chiều tối qua bà sang nhà cậu em trai ở xóm bên chơi. Cậu em trai cứ đòi đưa bà về nhưng bà gạt phắt đi:
- Cậu lo tôi không về được đến nhà à?
- Không phải vậy, nhưng bụng mang dạ chửa chị cứ để em đưa về.
- Thôi, thôi tự tôi đi được, cậu nói nữa lần sau tôi không sang thăm cậu nữa.
Bà Sáu khăng khăng từ chồi, mà cũng có xa xôi gì, chỉ xóm trên với xóm dưới, bà đi bộ một lúc coi như đi thể dục. Ở cái nơi không được gọi là thành phố nhưng cũng chẳng thể nói đó là nông thôn, mới chỉ 8h tối mà đã yên ắng thế này, mọi hôm bọn trẻ con còn tập trung ra đình chơi, sao hôm nay không thấy đứa nào, bà rùng mình vì sự vắng lạnh nơi đây, bà thoáng nghĩ.
- Biết thế cứ để cậu tư đưa về.

Bà Sáu đang cố bước đi thật nhanh, bỗng giật mình thấy có một đứa trẻ ngồi trước mặt, ở ngay cạnh bụi tre rẽ vào ngõ nhà bà. Bà dụi mắt nhìn lại thì không thấy có đứa trẻ nào ngồi đó cả, có lẽ do sợ hãi nên bà tưởng tượng, thôi đi nhanh về không ông Sáu lại mong. Bà vừa bước được vài bước thì lại nghe tiếng trẻ con khóc, từ khóc rưng rức đến gào lên thảm thiết, tiếng khóc vọng lên từ dưới cái giếng làng, trong đêm vắng nghe nó thật rùng rợn và tê tái. Bà Sáu dũng cảm quay lại nơi có tiếng trẻ con khóc, bà tiến lại ngày một gần hơn, tiếng khóc nghe thê thảm và đáng thương, không có ai xung quanh. Bà Sáu ngó đầu xuống giếng thì không thấy tiếng khó đâu nữa. Bà lại tự nhủ: Chắc mình lại hoa mắt tưởng tượng rồi, rồi bà quay người đi tiếp thì thấy thằng cu Hoàng, nó cười hiền hậu với khuôn mặt bầu bĩnh và đáng yêu. Và Sáy chưa kịp phản ứng gì thì khuôn mặt nó biến dạng, trắng bệch, hai hàm răng chìa ra phía trước trông như quỷ dữ, những ngón tay nhỏ nhắn xin xắn biến thành những khúc xương cong queo khủng khiếp. Nó nanh mọc tiến sát vào người bà đẩy bà xuống giếng, nó muốn bà phải chết.
- Bà Sáu ơi, bà Sáu…?

Tiếng ông Sáu vọng từ trong ngõ vọng ra như cứu vớt bà trong cơn khủng hoảng, nghe tiếng ông Sáu gọi mà bà không thể trả lời. Bà cứ ngồi vậy sụp xuống cái giếng làng trong nỗi hoang mang sợ hãi, hình ảnh vừa rồi khiến bà chưa thể bình tĩnh trở lại:
- Bà Sáu, sao bà lại ngồi đây. Đi về thôi.
Bà không thể giấu ông Sáu thêm nữa. Bà phải nói thật với ông, về sự trở về của thằng Hoàng lần này và cả những lần khác nữa, nó về để mang bà đi, bà lặp bắp trong khóe miệng:

- Thằng, thằng Hoàng nó vừa về ông ơi, nó đòi mạng tôi.
- Bà Sáu, bà lảm nhảm cài gì thế. Thằng Hoàng nó chết rồi, nó chết cách đây gần hai năm.
- Không, không nó vừa về, nó vừa đẩy tôi xuống giếng đúng lúc đó thì ông gọi tôi.
- Thôi về đi, chắc tại bà mệt quá. Tôi đưa bà về nhà nghỉ.
Có nói gì lúc này ông Sáu cũng không tin vì xưa nay ông là người không bao giờ tin vào chuyện ma quỷ. Bà dựa vào người ông Sáu để về nhà.
Từ hôm kể cho ông nghe về chuyện thằng Hoàng. Tâm trạng bà càng rối ren hơn, bà lo lắng nhiều hơn, sức khỏe của bà cũng giảm đi, bà sinh trước một tháng, đứa trẻ ra đời khi chưa đủ 9 tháng 10 ngày nên nó yếu ớt và khó nuôi hơn những đứa trẻ khác.
Khi người ta đưa đứa trẻ cho bà, bà Sáu đã suýt ngất đi vì trong tay bà là thằng cu Hoàng, tất cả các chi tiết trên cơ thể nó đều giống thằng Hoàng. Đúng là thằng Hoàng rồi. Bà kêu toáng lên khiến các y ta chạy ùa vào. Bà từ chối đứa con này, không nhận nó, bà bảo nó là ma. Thằng Hoàng chết rồi, nó không phải là con bà.

- Bác ạ! Trên đời này người giống nhau là bình thường. Cô y tá ân cần giải thích.
- Không, các cô có nhầm không, nó không phải là con tôi. Nó là đứa trẻ cùng xóm đã chết cách đây gần hai năm rồi.
- Bác có quan hệ huyết thống gì với người đã mất không? – Cô y tá hỏi.
- Không, tôi không, hãy mang đứa trẻ này đi. Các cô nhầm lẫn gì đúng không?
- Thưa bác không đâu. Y học cũng đã chứng minh, nếu trong quá trình mang thai người mẹ hay nghĩ tới một hình ảnh nào đó thì sau này em bé sinh ra cũng có những nét giống hình ảnh đó. Có lẽ bác hay nghĩ tới người đã mất.
Cô ý tá nói một hồi, bà Sáu cũng hiểu ra điều gì đó. Bà ôm đứa con vào lòng, nó yếu ớt và mỏng manh. Một cảm giác sợ hãi lẫn yêu thương tràn ngập trong bà. Bà sợ chính đứa con vừa sinh của mình, bà sợ vì nó giống thằng Hoàng, bà yêu thương nó vì nó là niềm mong ước, là nỗi khát khao, là đứa con do chính bà sinh ra. Trong niềm vui vì đã được làm mẹ, bà Sáu lại nghĩ đến lời nói của mình, rằng khi nào sinh xong bà sẽ đi theo thằng Hoảng trả nợ mạng cho nó. Nhưng giờ bà nghĩ khác rồi, bà muốn được ở lại chăm sóc và nuôi dưỡng đứa con yếu ớt của mình, bà muốn hằng ngày được nhìn thấy con mình.

Sau khi sinh được một tháng bà ra mộ thằng Hoàng. Bà mua cho nó rất nhiều thứ, những thứ mà khi còn sống nó rất thích. Bà chăm sóc bế bống nó từ bé nên bà biết nó thích gì. Bà khấn vái xin nó cho bà ở lại để được yêu thương chăm sóc con bà. Bà cũng sang nhà chị Tính thắp nén nhang lên bàn thờ thằng Hoàng.
- Chị Sáu, chị Sáu ơi! Thằng Minh càng lớn nó càng giống thằng Hoàng. Cứ nhìn nó em lại nhớ thằng Hoàng, chị hãy để cho em chăm sóc nó với chị – Mẹ cu Hoàng nói.
Bà buồn rầu, lo lắng vì sự so sánh vô tâm của chị Tính, với bà đó là điều khủng khiếp và kiêng kỵ. Bà không bao giờ có thể quên được hình ảnh lúc người ta vớt thằng Hoàng ở dưới ao lên, khuôn mặt nó, đôi mắt nó, thi thể nó… bà trả lời qua loa rồi về.

Trời nhá nhem tối, ông Sáu đi làm sắp về. Thằng cu Minhh đã ngủ. Bà xuống bếp đun lại nồi thức ăn. Nghe có tiếng bì bõm ở dưới ao phía sau bếp, bà nghĩ hay là trộm vào bắt cá, nhưng mới có 6h thôi. Bà ra bờ ao để kiểm nghiệm những dự đoán của mình. Trời chưa tối hẳn nhưng nhá nhem nhìn cũng không rõ, nhưng bà thấy rõ mồn một thằng Hoàng đừng ngay ở cầu ao. Nó nổi bật hẳn trong khoảng nhá nhem tối bởi khuôn mặt trắng bệch, nó nhảy nhảy trên mặt nước rồi lại bay lơ lửng, hai chân dài ra và lướt qua lướt lại, nó nhìn bà, rồi chưa kịp để bà nói điều gì, nó tan ra và biến mất, bà không nhìn thấy gì nữa. Bà Sáu hoảng hốt lao ra vội chạy lên nhà, thằng cu Minh hãy còn ngủ rất ngon.

Có bao nhiêu tình yêu thương ông bà đều dành cho thằng cu Minh. Ông bà khó ngọc lắm mới nuôi nổi con vì nó vốn yếu ớt hay ốm đau. Bà Sáu nuôi con trong nỗi ám ảnh về cái chết của thằng Hoàng, mỗi ngày qua đi, con trai bà lớn lên nó càng giống thằng Hoàng. Những đêm ông Sáu đi làm xa nhà, nằm ôm con có lúc bà hoảng hốt đẩy nó ra vì đó là thằng Hoàng.
Thằng cu Minh khó nuôi nên ông bà Sáu bàn với nhau bán nó lên chùa, đến năm mười tuổi thì sẽ cắt dây âm đón nó về. bà biết năm nó bốn tuổi sẽ có hạn lớn nên ông bà canh chừng nó rất cẩn thận. Năm thằng Minh tròn bốn tuổi nó giống thằng Hoàng y đúc, từ động tác cử chỉ, điệu bộ chỉ khác là no bé hơn thằng Hoàng một chút.

Ông Sáu là thợ xây nên có công trình là ông phải đi. Đợt này ông có công trình ở tận tít huyện bên nên một tuần ông chỉ tranh thủ về một, hai lần. Còn mình bà Sáu ở nha với thằng cu Minh, thỉnh thoàng có chị Tính chạy ra chạy vào giúp đỡ. Chị rất vui vì thằng Minh rất giống thằng Hoàng, nhìn thấy nó, chăm sóc cho nó cũng giống như chị đang chăm sóc con mình.
Bà Sáu và thằng cu Minh cùng chơi ở sân. Bà tranh thủ vừa trông con vừa làm việc nhà, lúc thì nhặt mớ rau, lúc thì dọn dẹp nhà cửa… Thoáng một cái bà đã không thấy nó đâu, bà nghĩ hay là nó lại chạy sang nhà “mẹ Tính”, nó vẫn hay gọi chị Tính là mẹ.
- Chị Tính ơi, thằng cu Minh có đây không?
- Chị Sáu! Thằng Minh không có đây. Em vừa ở bên ngoại về, không thấy nó hả chị?

Nhớ tới lời ông Sáu và bà thầy bói dặn dò: Năm nay là hạn của thằng cu Minh phải trông nom cẩn thận bà Sáu lao đi khắp nơi tìm kiếm. Bà nghĩ đến thằng Hoàng mà sợ hãi, không còn đủ tỉnh táo được nữa, bà sụp xuống. Chị Tính và mọi người thay nhau đi tìm. Ông Sáu cũng về gấp để đi tìm con.
Bà ngồi nghĩ lại, bà dọn dẹp trong nhà, còn thằng cu Minh chơi đùa với con mèo đen ở sân, nó đuổi theo con mèo để bắt. Đúng rồi còn mèo đen chạy đi đâu chứ. Cảm thấy điều gì khủng khiếp bà gào thét khóc van ầm ỉ làm cho ông Sáu và mọi người càng nẫu ruột hơn. Bà nhào ra bờ ao lấy sào, lấy tất cả những gì có thể khua khua dưới nước. Bà nhảy xuống ao mò mẫm. Không có gì ở dưới đó.

- Bà Sáu, bà hãy bình tĩnh rồi sẽ tìm thấy thằng Minh. Chị Tính an ủi bà.
Bà chỉ khóc, bà không nói được. Bà lại đổ lỗi tại bà, tại bà tất cả. Con bà đâu, nó đi đâu rồi…?
Mọi người thương cảm với nỗi sợ hải và lo lắng của bà. Bà đã quá suy sụp. Bà không muốn nghĩ tới chuyện của sáu năm về trước khi phát hiện ra xác thằng Hoàng nổi lềnh bềnh ở ao. Bà điên dại khi nghĩ đến điều đó.

Bà Sáu mở cửa nhà tắm, ngã quỵ và ngất khi nhìn thấy con trai bà, thằng cu Minh của bà nằm sõng xoài dưới nền gạch, mắt trợn ngược, máu ở hai bên tai ộc ra vẫn còn nguyên trên nền gạch, hai chân nó co lại, một tay hướng về phía trước. Nó chết rồi. Nhìn cảnh tượng đó không ai có thể kìm nổi lòng mình. Ông Sáu cũng ngất xỉu. Người ta dìu ông bà Sáu vào nhà, rồi tiêm hai mũi trợ tim. Bà Sáu không thể tỉnh lại để nhìn thấy con trai bà lần cuối, nó chạy đuổi theo con mèo đen vào nhà tắm. Bị vấp ngã và chết.

Năm nay nó cũng tròn bốn tuổi. Thằng Hoàng cũng bốn tuổi, cũng tại bà mà chết. Hai đứa trẻ vô tội tại bà mà chết. Bà không thể tha thứ cho mình, hay đúng hơn là không thể tiếp tục sống với những ám ảnh về cái chết của hai đứa trẻ, của thằng Hoàng và của con trai bà. Thằng Hoàng sao không lấy mạng bà, mà lại lấy mạng con trai bà.
Dân làng, họ hàng, anh em, đang lo chôn cất thằng cu Minh. Bà choàng dậy. Trong sự ngơ ngác của mọi người bà tiến về phía giếng nước không nói một lời từ biệt nào, bà nhảy xuống giếng…!Tôi không có ý đĩnh viết ra những điều này, để mong nó sẽ trở thành một cuốn sách, một mẩu chuyện trong bộ sưu tập về những câu chuyện ma của các bạn, hay làm cho các bạn hoang mang sợ hãi.

Đơn giản đó là câu chuyện của tôi gắn với những năm tháng tuổi thơ của tôi. Chuyện đã qua lâu lắm rồi, đó là một nỗi đau, một mất mát quá lớn đối với tối. Sau một thời gian rất dài, tôi chưa một lần nhắc lại những ám ảnh đã từng dày vò tôi trong quá khứ. Nhưng hôm nay sau gần hai mươi năm bôn ba bên xứ người, nay trở về quê hương, gặp lại người chị yêu thương của mình, những điều khủng khiếp đã xảy ra với tôi, với gia đình tôi và với cả người chị kính yêu của mình.
Vào những năm 1975 khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước hân hoan trong niềm vui chiến thắng cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hòa cùng với niềm vui chung của đất nước, gia đình tôi đang phải đối mặt với những lo toan miếng cơm manh áo hàng ngày, xí nghiệp nơi bố mẹ tôi làm việc, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, xí nghiệp phá sản và thế là bố mẹ tôi trở thành những người thất nghiệp, gánh nặng đè lên vai người đàn ông duy nhất trong gia đình là bố tôi phải lo toan cho cả một gia đình với hai chị em tôi chưa đến tuổi lao động. Bố quyết định chuyển nghề, xin vào làm ở những xí nghiệp khác, nhưng chỗ nào cũng thừa lao động, bố không có cơ hội để tìm một công việc mới.

Một buổi sáng khi cả hai chị em vừa đi học về bố mẹ gọi cả hai chị em lại và nói, giọng bố đầy đau khổ và bất lực:
- Bố mẹ đã mất việc, các con biết rồi đúng không?
- Dạ, chúng con biết! – Chị tôi trả lời.
Bố nói: – Bố mẹ đã cố gắng hết sức nhưng không thể tim việc mới. Bố mẹ quyết đĩnh tuần sau chúng ta bán nhà về quê sống với chú Hà.
Cả hai đều bất ngờ trước quyết định của bố mẹ, nhưng rồi chúng tôi đều hiểu đó là quyết định đúng và tốt nhất cho gia đình lúc này. Chúng tôi làm thủ tục chuyển trường và chia tay các bạn.

- Sáng ngày 15 tháng 2 năm 1976, cả nhà chuẩn bị đồ đạc bàn giao chìa khóa cho chủ mới, bố thuê xe tải chở đồ về quê nội. Bố sống thoát ly từ rất sớm, nên khi ông bà nội mất đi, toàn bộ nhà cửa đất đai ruộng vườn đều để lại cho chú Hà. Khi về quê cả nhà xác định với hai bàn tay trắng. Qua chú Hà bố nhanh chóng mua một khu đất khá rộng và bắt đầu xây nhà. Những ngày xây nhà mới, cả gia đình tôi sang ở bên nhà chú Hà, chúng tôi cũng nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống nơi thôn quê… Chỉ mất một thời gian ngắn để hoàn thanh khu nhà nhà ngói ba gian khang trang, với một khu đất riêng. Khi xây nhà và dọn về nhà mới bố đều cúng bái thổ địa rất cẩn thận như chú Hà nói. Từ ngày chuyển về đây với bao công việc mới, lo trường học mới cho chị em tôi, mua đất làm nhà… Trông bố gày đi nhiều.
Hôm liên hoan nhà mới khi khách khứa về hết, bố gọi chúng tôi ra và bảo:
- Bố biết cuộc sống mới sẽ khó khăn hơn với các con, nhưng dù vất vả mấy bố mẹ sẽ cố gắng để các con ăn học tử tế, vì vậy hai đứa phải cố gắng học.
Tôi ngoan ngoãn thay lời chị!
- Vâng ạ!

Một lúc sau, bố nghĩ ngợi điều gì rồi nói tiếp: chú Hà bảo khu vườn nhà mình rộng rãi nên tích cực tăng gia sản xuất, để lấy thu nhập. Ngày mai bố sẽ cho người đào một cái ao thật rộng, ở dưới có thể nuôi được cá, trên vườn có thể trồng rau, cây ăn quả. Chú Hà nói còn hai đám ruộng phía sau nhà chú Hà đều cho nhà mình tùy ý sử dụng. Mới sáng tinh mơ tôi đang còn ngái ngủ đã nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài, bố cùng mấy người đàn ông đang đào ao, chị đã dậy từ khi nào và cùng mẹ đi chợ. Hăm hở vất vả suốt mất ngày trời, bố đã sắp hoàn thành công trình của mình. Đào đến ngày thứ tư ở mép bờ ao bây giờ, khi bố và chú Hà đặt lát xẻng xuống thì gặp phải vật gì cứng không đào được. Bố lấy một cái thuổng cố dằn nó xuống, rồi đào rộng khu đất đó ra,khi đưa lên khỏi mặt đấy thì đó là một cái tiều sành đã bị bố làm vỡ nắp đậy ở trên, bên trong chẳng có gì ngoài một đống đất.
Bố nói:

- Các chú giúp tôi khiêng cái này ra sau nhà chôn nó xuống thửa ruộng nào cũng được.
Mọi người làm theo ý bố, chỉ sau một vài ngày cái ao mà bố mong muốn đã hoàn tất. Bố nghiên cứu kỹ càng rồi mua cá giống về thả và bắt đầu trồng hoa quả, cây cối. Hàng ngày chị em tôi giúp bố trồng và tưới cây chẳng mấy chốc khu vườn nhà tôi sum suê hoa quả, ao cá của bố cũng có vẻ như tiến triển rất lớn. Bố mở rộng thêm chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hệ thống chuồng trại được bố xây dựng hết sức hợp lý. Mới chỉ về có bốn năm, cơ ngơi của gia đình tôi đã có vẻ khá hơn, ai cũng khen ngợi bố giỏi giang. Sáng nay đi chợ cùng mẹ, tôi còn nghe bà Tư nói:

- Vợ chồng anh Chếnh giỏi thật, rất đáng để chúng tôi noi theo.
Bố mẹ hạnh phúc khi kinh tế gia đình đã đảm bảo, đã có nguồn thu nhập, chị em tôi đều giỏi giang, đặc biệt là chị, thành tích học tập của chị luôn giữ mức xuất sắc. Bố rất tự hào về chị.
Mới đó đã bốn năm trôi qua, chị c
ũng sắp tốt nghiệp cấp 3 và chuẩn bị thi đại học. Mới ngày nào chuyển về nhà mới chị còn là cô bé nhút nhát, gầy guộc, ít tiếp xúc với mọi người, tưởng rằng về miền quê đầy nắng gió này sẽ khiến chị không thích nghi được, nhưng chỉ bốn năm chị đã khác rất nhiều, đã trở thành một thiếu nữ tự lúc nào, đôi mắt to mơ màng, cái nắng và gió ở đây không làm ảnh hưởng đến làn da vốn trắng hồng, mịn màng của chị.

Chị được thừa hưởng tất cả những cái đẹp của bố mẹ, chị dịu dàng nhu mỳ, chăm ngon học giỏi. Toàn những điều trái ngước với tôi. Ở cái tuổi 17, 18 chị có một sức hút kỳ lạ. Nhiều khi nhìn vào chị tôi như nhìn vào ảo ảnh. Tôi vẫn hay nghĩ khi bằng chị tôi cũng sẽ đẹp như chị. Mặc dù tôi biết điều đó không bao giờ xảy ra, tôi không ghen với chị, tôi tự hào về chị. Những ngày tháng đó gia đình tôi sống rất hạnh phúc… Nhưng hạnh phúc mong manh và ngắn ngủi.
Tôi vẫn nhớ những thàng ngày chị ôn thi đại học, chị thường đi ngủ sau 12 giờ với tâm nguyện bước chân vào giảng đường đại học.
Một buổi sáng, tôi không biết nên gọi đó là sáng hay tối nữa vì lúc đó đồng hồ chỉ con số 1h30p, chị hoảng hốt, khuôn mặt xinh đẹp của chị trở nên biến sắc xanh mét, chị nhảy vào giường hổn hển lay gọi tôi.

- Lan! Em có thấy ai ở đây không?
Trong đêm vắng tĩnh mịch ở một vùng quê yên ắng, ngoài tiếng ếch nhái kêu râm ran tôi chẳng thấy ai khác.
Vẫn đang cơn đói ngủ! Tôi như không thể thoát khỏi mặc dù đã thấy chị thất thần, chị lại lay tôi.
- Lan! Lan! Dậy mau, dậy mau với chị đi.
Tiếng gọi của chị thảm thiết hoang mang tốt độ.
Chị nói: – Chị vừa nhìn thấy có bóng người, một người con gái nhìn chị và cười với chị, ngồi ngay sau chị.
- Thôi, chị học nhiều quá, rồi tưởng tượng lung tung. Bây giờ là một giờ sáng làm gì có ai ngoài em với chị.
- Thôi, đi ngủ đi chị, mai học.
Nhưng chị vẫn hoảng hốt, ngồi đờ đẫn.
- Không Lan, đó là người thật. Chị nhìn thấy. Chị đang ngồi học thì thấy lạnh ở sống lưng. Chị quya người lại thì thấy một cô gái ngồi ngay phía sau. Cô ta nhìn chị và cười. Chị chưa kịp nhìn rõ thì cô ấy biến mất.
Tôi vẫn không tin những điều chị nói, đáp:
- Em biết rồi, tại chị học nhiều, thôi đi ngủ đi…

Chị lên giường, ôm chặt lấy tôi. Tôi cũng không biết chị có ngủ không, còn tôi thì ngủ ngay sau đó.
Sáng mai nhìn khuôn mặt hốc hác, hai mắt thâm quầng của chị, mẹ lo lắng hỏi. Chị kể lại mọi chuyện. Cũng như tôi, mẹ không tin vào những điều chị nói. Mẹ bảo chị:
- Vào được đại học là quan trọng. Nhưng con học cũng phải biết giữ gìn sức khỏe chứ. Con mệt quá nên mới tưởng tượng ra như thế thôi.

Mọi chuyện cứ vậy trôi qua. Bộn bề với việc ôn thi, chị cũng cho là mình hoa mắt. Kỳ thi đại học kết thúc, tôi biết với sức học của chị, chị sẽ dễ dàng đặt chân vào giảng đường đại học. Cầm tờ giấy báo trúng tuyển trên tay, khuôn mặt bố rạng ngời niềm hạnh phúc khôn nguôi, tôi biết bố tự hào về chị nhiều lắm…
Những ngày ôn thi vất vả, chị đã quên mất những cuộc gặp gỡ bạn bè. Tối nay có chương trình ca nhạc, bố bảo chị đi xem cùng các bạn. Chương trình ca nhạc đến 11 giờ mới kết thúc. Nhưng chị khéo léo để lôi một người bạn nữa cùng về lúc 10 giờ.

Đường ở thôn quê vốn dĩ đã ít ồn ào, vắng lặng, nhưng cái khu xóm nhà tôi bên rìa cánh đồng này càng âm u, heo hắt hơn. Gió mùa hè mát và thảnh thơi lắm. Chị bảo đi đường tắt về nhà cho nhanh. Con đường đó vốn ban ngày cũng vắng lặng ít người qua lại. Ban đêm nó như trùng xuống, im ắng, nấp khuất hẳn sau những thôn xóm. Hai người bạn tíu tít đi bên nhau, trò chuyện đến một ngã rẽ để về nhà, cách một đoạn đường không xa, cả hai đều thấy dáng hình một người phụ nự ngồi bó gối tóc xõa phía sau lưng quay lưng về phía họ. Cả hai vui vẻ gọi chị Đào người cùng xóm.

- Chị Đào! Chị Đào ơi! Chờ bọn em à!
Không có tiếng trả lời từ phía người ngồi, họ đi dần về phía bóng người đó, ngày một gần hơn, vừa đi vừa hỏi:
- Chị Đào! Sao thế? Về đi.
Vẫn không có tiếng trả lời. Cả hai tiến lại gần. Người phụ nữ vẫn ngồi đó, không nói gì mà ngẩng lên nhìn thẳng vào hai người, hai mắt lồi lên khỏi khuôn mặt non trẻ, bên trong là hai con người màu trắng choán hết cả đôi mắt, hai bên cầm bạnh ra, những chiếc răng nanh nhọn hoắt mọc chĩa về phía trước rồi biến mất. Chị và người bạn chỉ kịp hét lên những tiếng kinh hãi.
- Ma! Ma… rồi ngất đi.

Khi tỉnh dậy, chị tôi kể lại mọi chuyện. Chị nói đó là ma, là một cô gái khi cô gái ngẩng lên chị chỉ thấy một khuôn mặt nhạt nhòa, không xác định được, nhưng chỉ quả quyết đó là cô gái đợt trước chị đã nhìn thấy. Mặc dù không tin vào những chuyện ma quỷ, nhưng không phải chỉ một mình chị nhìn thấy, cả bạn của chị cũng nhìn thấy. Bố mẹ không thể không lưu tâm…
Chuyện chị nhìn thấy ma bắt đầu loan đi khắp xóm, khắp khu, mọi người xôn xao bàn tán, mỗi người một quan điểm riêng. Bố cũng bắt đầu thấy ái ngại, nhưng chấn an mọi người trong gia đình, là chỉ là tưởng tượng thôi, làm gì trên đời lại có ma quỷ. Tôi tuy mới chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi nhưng từ bé đã rất can đảm, tôi không tin trên đời này lại có ma…

Một tháng sau, mọi chuyện lại lắng xuống, chuyện ma quỷ coi như chưa xảy ra, chị bắt đầu những năm tháng sinh viên xa nhà. Tuần nào chị cũng viết thư kể cho tôi nghe cuộc sống sinh viên, những thiếu thồn và cả những kỳ thi. Chị động viên tôi cố gắng học tốt để được tận mắt chứng kiến cuộc sống sinh viên. Chị kể về những chàng trai theo đuổi chị, những anh chàng giàu có ném tiền qua cửa sổ, và cà những anh chàng sinh viên nghèo. Đó là lẽ đương nhiên rồ. Chị của tôi xinh đẹp, trẻ trung, dịu dàng thế kia, ai tiếp xúc với chị đều phải xiêu lòng. Chị kể về một anh chàng si tình đến mức ngày nào cũng đứng ở cổng ký túc xá đợi chị đi qua chỉ để được nhìn thấy chị, rồi lại có người đàn ông thành đạt mong muốn được san sẻ những gánh nặng buồn vui trong cuộc sống. Nhưng chị từ chối tất cả để chuyên tâm vào học hành.

Hình như niềm vui của tôi, chỉ là chờ mong những bức thức của chị. Chị nói tuần sau chị sẽ về. Tôi reo mừng khoe với bố mẹ là cuối tuần chị về cả nhà rất vui nhất là bố, bố chuẩn bị mọi thứ để đón con gái về.
- Hôm nay mình đi chợ mua thêm mấy món ngon về.
- Tôi biết rồi. Mẹ trả lời bố rồi chuẩn bị đi chợ.
Cả nhà hân hoan đón chị. Chị gầy đi so với trước lúc đi học, nhưng tôi lại thấy chị đẹp hơn nhiều so với trước, vẫn đôi mắt ngây thơ to tròn với mái tóc dài xanh mướt.
- Lan! Chị mua quà cho em đấy.
- Đâu? Đâu? Quà gì vậy chị?
- Chắc chắn là em sẽ thích.
Một đôi giầy búp bê màu trắng nhỏ xinh, có chiếc nơ trên rất đáng yêu. Tôi hạnh phúc ngồi ngắm đôi giày.
Lâu lắm rồi kể từ ngày chị đi học trên thành phố, cả nhà mới được ăn cơm cùng nhau như hôm nay. Đang ăn cơm có tiếng điện thoại reo.
- Alo! Cô chú Chếch phải không?
- Dạ! Vâng, em đây!
- Bà ngoại vừa mất!
Cả nhà không nghe thấy gì, mẹ nấc lên từng tiếng. Bố thu xếp công việc rồi đưa mẹ về ngoại. Ở nhà chỉ còn hai chị em, bố dặn dò khóa cửa cẩn thận khi ngủ, … Đêm đó, trời trở nên lạnh hơn. Xem hết chương trình thời sự tôi cứ bám riết lấy chị, để nghe chuyện của chị, về cuộc sống xa nhà của chị. Chị khóa cửa cẩn thận, rồi hai chị em chui vào chăn tâm sự. Chị vẫn quen đi ngủ muộn còn tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng nghe tiếng ai đó la hét kinh hoàng, tôi choàng dậy. Vì chị mặt cắt không còn giọt máu, ngồi bất động trong góc tường, tôi hoảng hốt lao đến bên chị. Chị ôm tôi, hổn hển. Ma! Ma!

Tôi bật điện sáng hết cả ngôi nhà, ngoài sân… Chị nói trong hoảng loạn:
- Lại! Lại!… Lại người con gái đó. Cô ta vừa ở đây! Cô ta rên rỉ ở ngoài vườn, trả lại nhà, trả lại nhà…
- Cô! Cô ta bị treo cổ trên cành cây ngoài vườn, hai mắt trợn ngược, mặt cô ta đầy máu nó đang chảy xuống cổ và loáng khắp thân thể, hai tay, hai chân thòng lòng xuống phía dưới, cô…cô ta nhìn chị. Lan! Lan em có thấy không?
Nhìn khuôn mặt của chị tôi cũng không khỏi kinh sợ. Tôi cố gắng trấn an chị và nhìn ra khu vườn, chỉ một màn đêm tĩnh mịch, tiếng gió rít bên ngoài, mưa lâm thâm đủ để biết ngoài trờ rất lạnh. Con chó mực cứ sủa liên tục về hướng khu vườn cứ như nó phát hiện thấy có người lạ trong khu vườn. Tôi cố quát ra bên ngoài:
- Mực! Mực!

Con chó vốn ngày thường rất ngoan. Nó không ngừng sủa vào bóng đêm… Tôi bắt đầu có cảm giác rùng mình và nghĩ về những chuyện chị nhìn thấy ma trước đây. Hai tay ôm chị thật chặt như muốn chạy trốn khỏi đây, muốn gào lên gọi bố mẹ, nhưng trong cả khu vườn mênh mông câm lặng ngoài kia, ngoài con chó mực vẫn không ngừng sủa, là một cánh đồng mù mịt, thỉnh thoảng lại có những âm thanh gì nghe rùng rợn vang lên trong đêm tối. Tôi biết chị đang sợ nên cố tỏ ra cứng rắn một chút. Trong lòng ba chữ ma, ma, ma vang vọng trong óc tôi.
Chú Hà nghe tiếng chó sủa nhiều, hớt hải chạy sang.
- My à! Lan à! Có chuyện gi không cháu?
Cả tôi và chị như người chết trôi bám được vào cọc.
- Chú à! Chú ơi! Ma…

Chúng tôi kể lại chuyện cho chú nghe. Chú cố trấn an bọn tôi, nhưng tôi biết chú đang suy nghĩ điều gì đó. Chuyện những lần trước và lần này chị nhìn thấy ma không thể là tưởng tượng được nữa. Chú nói sẽ ở lại với chúng tôi. Hai đứa cứ ngủ tiếp đi. Không sao đâu. Kể từ khi chú Hà vào, con mực không tru lên và sủa nữa. Nó nằm im một chỗ, nhìn vào bóng đêm trong khu vườn cứ như nó nhìn thấy điều gì mà tôi không thề nhìn thấy.

Chú Hà nói chuyện với bố mẹ về chuyện thỉnh thoảng lại thấy một cô gái xuất hiện trong nhà, mà không ai khác, chỉ mình chị nhìn thấy. Đây không thể là tưởng tượng được. Bố lo lắng nói, hay là có ma thật. Nhưng sao chỉ mình cái My nhìn thấy, lẽ nào lại vậy hay nó tưởng tượng. Chú Hà cắt ngang.
- Không thể tưởng tượng như thế được đâu anh ạ. Em cũng như linh cảm thấy điều gì đó không ổn lắm.
- Chú đừng có nó bậy, đang yên đang lành lại ma với quỷ.
- Hay mai mình nhờ ông thầy cúng về xem thế nào.
Me xen vào cuộc nói chuyện của bố với chú Hà.

- Thôi, đang ăn nên làm ra, đừng bày vẽ, rồi lại… Cứ để thêm một thời gian nữa xem thế nào đã.
Mỗi lần về nhà, chị đều thấy sợ và rồi chị về nhà dần ít đi. Chị nói về nhà chị như cảm thấy lúc nào cũng có người đi theo mình, nhìn mình. Ở trên thành phố chị lo học ngày học đêm, chị không màng đến những chuyện yêu đương khác, bao người đàn ông nhìn chị ngưỡng mộ rồi quay đi. Có người còn nói hay chị bị lãnh cảm. Nghĩ cũng lạ. Chị là một người đẹp, giỏi giang, xung quanh chị luôn có những người đàn ông theo đuổi, lẽ nào chị không động lòng…

Ngày lễ tốt nghiệp, chị hân hoan đón nhận thành tích học tập xuất sắc của mình. Chị được nhận một suất học bổng toàn phần tại nước ngoài. Ai cũng vui mừng đón nhận niềm vui này. Chị cũng vậy. Bố không vui lắm vì bố không muốn chị một mình đi sang nước người, lạ nước lạ cái. Dù mọi chuyện bố đều rất công bằng và tiến bộ…Con gái không nên học nhiều. Chị nghe lời bố mẹ ở lại trong nước. Với thực lực của chị, để tìm kiếm một công việc ổn định trong nước cũng không khó khăn gì.

Ngày mai chị đi nhận công tác ở thành phố. Chị thao thức, hồi hộp với một cương vị mới. Chị dậy sớm thu xếp thêm ít đồ đạc. Vừa ngồi dậy, vén màn, bước xuống, quay mặt ra phía bàn chị thấy có một người phụ nữ mặc đồ trắng toát, tóc dài, buông xõa. Người phụ nữ chải tóc rất tự nhiên.
- Mẹ! Sao mẹ dậy sớm vậy?
Không có tiếng trả lời.
- Con cũng không ngủ được nên dậy thu xếp thêm ít đồ.
Chị sợ nói không đủ lớn, mẹ không nghe đủ nên nhắc lại lần nữa.
- Con đi dọn thêm đồ.
Chị đi sát lại mẹ. Người phụ nữ đó từ từ quay lại về phía chị, cười rồi biến mất trong đêm tối.
Sau tiếng la hét thất thanh, cả nhà chạy tới. Chị nằm sõng soài trên nền gạch. Bố bế chị lên giường xoa dầu. Chị ngất vì sợ hãi.
- Mau! Mau! Lấy lọ dầu ra đây! – Mẹ cuống cuồng tìm lọ dầu.
Chị tỉnh dậy, nhưng người như mất hồn. Chị không nói củng không phản ứng gì. Bố mẹ lo lắng như hiểu được nguyên nhân. Chị hổn hển kể lại sự xuất hiện của người con gái đó, rồi biến vào hư vô như chưa từng xuất hiện.

- Người con gái đó còn rất trẻ. Cô ta còn quay lại cười với con, nhưng không thể nhìn rõ khuôn mặt. Cô ta cười và biến mất. Con như nhìn vào ảo ảnh.
Chị không lên thành phố nhận việc như dự định nữa. Nhưng chị sợ ở nhà, chị sợ bóng tối, chị sợ ở một mình.
- Lan! Chị thấy sợ lắm. Lúc nào chị cũng thấy có người đang nhìn mình.
- Không sao đâu chị. Đã có em ở bên rồi mà.
Tôi nói vậy mà trong lòng đầy lo lắng và sợ hãi. Bố mẹ cũng chuyển xuống nhà dưới ngủ với chị em tôi, để một lần tận mắt nhìn thấy ma.
- Không! Đừng bắt tôi đi! Xin đừng…
Tiếng chị ú ớ la hét trong đêm vắng làm cả nhà giật mình. Mẹ lay chị dậy. Mồ hôi nhễ nhại, chị nói:
- Cô gái đó lại đến và gọi con đi.
Bố hiểu chuyện này không phải là ngẫu nhiên. Bố cho gọi chú Hà sang và nhờ chú tìm thầy cúng. Từ hôm đó, chị ốm liên miên, lúc tỉnh lúc mơ khiến mọi người trong nhà lo lắng.

Mẹ nói sáng nay cụ Nhâm sang thăm cái My. Cụ nói có lẽ do đất này vốn là khu nghĩa địa. Trong những năm trước cách mạng tháng Tám 1945, nhiều người được chôn ở đây. Sau này thống nhất, mộ được di chuyển về khu “Ngõ chối” nhưng vẫn không hết được.
Bố tôi nhớ ra chuyện cái tiểu vỡ mấy năm về trước khi bố và mấy người đào ao, rồi bố cho ra khu đồng sau nhà,… lâu nay cũng không nghĩ gì đến chuyện đó. Bố cho mời thầy cúng về. Cũng không hiểu là thấy nói có đúng không nữa, nhưng đó là ngôi mộ của một cô gái trong những năm chiến tranh bị lính Ngụy hiếp và vứt xác ở đó. Dân làng thương nên chôn cất, hương khói cho cô ta một thời gian.
Mẹ tôi như nhớ ra điều gì, mãi mới lên tiếng:
- Thảo nào, cái Lan kể có một người con gái cứ đến đòi trả nhà. Có lẽ tại mình làm vỡ nắp tiểu, khi chuyển ra đồng lại không hương khói gì.
- Ừ, có lẽ vậy! – Bố cũng đồng tình với ý kiến của mẹ.

Sau khi làm lễ khấn vái, xây đắp thành ngôi mộ… Thỉnh thoảng vào các ngày lễ mẹ cũng thắp hương khấn vái mong cho linh hồn cô gái trẻ được siêu thoát. Chị gái tôi, từ đó cũng không nhìn thấy ma nữa, có lẽ hồn ma đã được đầu thai kiếp khác. Cả gia đình ai cũng yên tâm với ý nghĩ đó, chị lên thành phố nhận việc và ở lại thành phố một vài tuần mới về một lần. Nhưng hạnh phúc mong manh và dễ vỡ. Chị đi làm được gần 2 tháng trên thành phố thì bắt đầu ốm, chị sốt miên man, bố mẹ lo lắng đón chị về nhà. Không tìm ra nguyên nhân, chị cứ vậy nằm mê sảng hết ngày này qua ngày khác, trong cơn mê chị lảm nhảm:
- Không! Buông tôi ra, tôi không muốn đi!… Buông ra, buông ra…

Các bệnh viện tốt nhất bố mẹ đều đưa chị đến, chỗ nào cũng khẳng định không có bệnh gì. Người chị gầy tóp héo khô. Chị nói:
- Người con gái đó không tha cho con! Cô ta muốn con đi cùng… Cô ta kéo con xuống vực, dìm con…
Mọi chuyện ma quỷ tưởng đã qua khi mồ yên mả đẹp cho cô gái chết trẻ đó, nhưng nàng vẫn còn vương vấn bụi trần, ám ảnh gia đình tôi. Bố mẹ nhờ chú Hà đi tìm thầy cúng.
- Ngày mai, chú sang sông đón thầy cúng về hộ tôi.
- Em nghe, ở bên làng Phùng có ông thấy cao tay hơn, hay để mai em nhờ ông ta.
- Ừ! Thế cũng được. Vậy sáng mai chú đi luôn đi.
Chú Hà vâng dạ rồi sáng mai đưa về ông thầy cúng, vừa vào đến nhà thầy nói luôn:
- Gia đình chuẩn bị cho tôi: Một đầu lợn sống, một đuôi lợn sống, một chậu cá, lươn sống, muồi trộn gạo, trầu cau… và một hình nhân thế mạng.
- Chị đi ngay, âm khí trong ngôi nhà này nặng lắm.

Mẹ tất tưởi vội vàng chuẩn bị đày đủ lễ nghi để thầy tiến hành đuổi ma. Hơn hai ngày đem hương khói, la hét nhảy múa ầm ĩ, cuối cùng thầy nói:
- Xong rồi, một vài hôm nữa rồi sẽ khỏi, phải thương lượng với ma quỷ tha cho người sống, phải cắt sợi dây âm…
Chị tôi chẳng thể bình phục như thầy đã phán, một tuần sau chị tôi mất, do sốt cao, do mất sức, do sợ hãi và cũng do… không bệnh viện nào xác định được nguyên nhân cái chết của chị tôi. Người con gái giỏi giang, xinh đẹp niềm tự hào của cả gia đình ra đi đột ngột ở tuổi 26, là mất mát không gì bù đắp nổi với gia đình tôi. Rất nhiều năm đã trôi qua, không ai có thể quên được chị. Trong những giấc mơ của mình, tôi thấy một cô gái lạ, cầm tay kéo chị tôi đi đến một miền đất rất xa…Đọc lướt xong bức thư sau cùng, tôi lơ đãng bóc một bức thư mà người thư ký của tôi để nguyên chưa mở.
Có lẽ cô ấy nghĩ đây là thư riêng nên để nguyên niêm. Không biết đầu óc để ở đâu, tôi quên không coi địa chỉ người gởi, vì thế nội dung bức thư làm tôi giật mình.

“Vì chúng tôi không tìm thấy người bà con nào, trong khi dường như ông là người liên lạc thư từ và là khách thăm duy nhất của bà ấy nên chúng tôi xin báo cho ông biết là Miriam Winters đã qua đời. Bà ấy chết thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 25 vừa qua”. Ánh nắng đang chiếu qua mành cửa sổ văn phòng tôi bỗng trở nên lạnh lẽo. Toi đang đứng khi mở bức thư, bây giờ, tôi đã ngồi xuống, xoay cái ghế bọc da một vòng, nhìn đăm đăm ra cửa sổ. Thế là, sau cùng, bà ấy đã chết. “Khách thăm duy nhất”. Lạy Chúa, không hẳn thế! Lần sau cùng gặp bà ấy là khi nào? Năm năm? Sáu năm? Tôi nhớ có nhận được một thiệp mừng Giáng sinh và bà ấy cứ nhắc đi nhắc lại là tôi phải viết thư cho bà ấy. Bà ấy cô đơn, cô đơn ghê gớm vào những năm cuối cùng trong đời, ắt hẳn thế. Lòng tôi bỗng tràn ngậpmột nỗi ân hận, thứ cảm giác mà bạn thấy khi một người đã chết mà chưa thu xếp xong những việc còn dang dở.

Tôi chỉ là một thằng nhóc mười sáu tuổi khi họ thả ông Winters và vì thế, tôi có trách nhiệm về việc giải cứu ông ta. Tôi đi lăng quăng mùa thu năm đó, vênh váo như một anh hùng đáng nguyền rủa. Tôi không ý thức được trở lại Wilton Falls nhiều năm qua và tôi không biết họ có còn kể cho con cháu họ nghe chuyện xảy ra mùa thu năm ấy hay không. Tôi không biết họ vẫn cứ kể lại câu chuyện theo cách đó – tạo ra một huyền thoại Miriam – mụ phù thủy? Vâng, họ lầm. Bà ấy không phải là phù thủy. Tôi đã được nghe bà ấy kể lại hết.
Xoay cái ghế bọc lại bàn giấy, tôi nhìn bức thư một lần nữa. Thật kỳ lạ! Nhưng có thể tôi là người còn sống duy nhất đã nghe tất cả câu chuyện kể lại bởi chính bà ấy. Chắc chắn báo chí không cho bà ấy có được dịp kể lại tất cả sự việc. Họ quá mải mê viết những bài giật gân về sự khủng khiếp bà ấy đã gây ra.
Quả thật, đó là một chuyện khủng khiếp.

Tôi không bao giờ chối bỏ điều đó. Tôi cũng không tha thứ việc bà ấy đã làm. Nhưng định mệnh đã đưa vào tay tôi trọn vẹn tấn bi kịch mà không ai có được. Vì thế, tôi luôn luôn nghĩ khác về Mariam Winters.
Mariam ngừng lại để lau mồ hôi trên trán nàng. Chỉ còn hai cái áo sơ mi chưa ủi. Harry sẽ về nhà tối nay và hắn sẽ hỏi chúng trước tiên. Hắn ta có rất nhiều áo sơ mi đủ để thay trong một tháng xa nhà trong khi ở nhà hắn cũng còn ngần ấy áo cho Mariam giặt ủi. Một người bán hàng phải ăn mặc chải chuôt, Harry luôn nói thế. Mà hình như hắn thay áo nhiều hơn cần thiết. Sau lần sai làm ngớ ngẩn đầu tiên, nàng không bao giờ nhắc lại chuyện đó khi thấy vết son môi, vết phấn vấy bẩn trên áo hắn.

Nàng nhìn đồng hồ phía trên lavabo một cách sợ hãi. Tại sao nàng phải để đến giờ chót? Ồ, vì tháng này nhiều chuyện quá. Bobby ốm rồi đến lượt nàng, nàng bị chứng nhức đầu ghê gớm hành hạ liên miên. Từ khi Harry đánh nàng té vào bếp thì nàng bị chứng nhức đầu đó và một thứ cảm giác kỳ lạ chiếm ngự trí não nàng luôn luôn. Nàng đặt bàn ủi xuống, lấy tay day day trán. Nàng không sợ nhức đầu lắm nhưng cái cảm giác kỳ cục kia… Nàng tự hỏi không biết có phải mình bị mất trí nhớ từng lúc hay không. Nàng mong rằng chuyện đó không có. Bobby tuy còn bé nhưng đã có thể tự lo cho mình ăn uống, tắm rửa… nhưng nó sẽ làm gì được một khi mẹ nó bị mất trí nhớ một ngày nào đó?

May thay, nàng vừa ủi xong cái áo cuối cùng thì xe hơi của Harry lái vào bãi cỏ sau nhà. Hắn tông cửa bước vào. Hắn lớn hơn Mariam hai mươi tuổi, to con. Hắn đặt túi hành lý xuống đất không đáp lại lời chào “…Hello!” run rẩy của Mariam. Hắn quay ra rồi trở vào với hai túi giấy mà hắn cẩn thận đặt trên bàn làm bếp. Tim Mariam chùng xuống. Thế có nghĩa là hắn không vui rồi. Nàng luôn luôn biết điều đó bởi những chai rượu hắn đem về để uống trong vài ngày nghỉ ngắn ngủi ở nhà trước khi lên đường.

- Em chuẩn bị bữa ăn cho anh rồi đấy!
Vừa nói, Mariam vừa chỉ tay vào bếp.
Đang lúi húi mở những nắp chai rượu, Harry dừng lại liếc nhìn nàng rồi lại cắm cúi vào những chai rượu.
- Áo của tôi xong chưa? – Vâng… xong cả rồi… tất cả. Anh ngồi vào bàn đi, em dọn cho anh ăn. Hắn lầm bầm trong miệng rồi ngồi vào bàn.
Hai giờ sau, hắn đã say mèm.
Hắn không cho nàng đi ngủ.
Tuy nàng tránh được những cái vồ của hắn trong cơn say bí tỉ nhưng sau cùng hắn cũng dồn được nàng vào góc nhà. Hơi thở hắn nồng nặc mùi rượu. Bàn tay hắn lần mò trên thân thể nàng khiến nàng buồn nôn.
- Đừng… đừng… Harry…
Giọng nàng vô tình cất cao trong hơi thở gấp. Có những bàn tay khác chụp lấy tay nàng. Đó là Bobby. Giật mình vì tiếng kêu của nàng, nó vừa khóc vừa chạy vào bếp.
- Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Nó la lên, cố kéo nàng thoát khỏi tay gã đàn ông đang say. Mariam nuốt nước mắt, cố gắng nói bằng giọng ôn hòa:
- Con phải trở lại phòng và ngủ đi. Bobby… nào… để mẹ đưa con đi ngủ… Nhưng Harry ôm chặt nàng:
- Cô không được đi đâu cả… dẹp cái trò làm mẹ bẩn thỉu đó đi một lát đã… khi một người đàn ông đi xa về thì hắn cần giải trí… giải trí kiểu vợ chồng…
Hắn quay sang đứa bé. Nó vẫn bám chặt mẹ nó.
- Cút ngay! Đồ khốn nạn! Đi ngủ!
Nhưng thằng bé khốn khổ không nghe hắn.
Nhanh như chớp, hắn vung bàn tay hộ pháp.

Thân hình thằng bé hình như bay trong không khí. Đúng, nó bay trong không khí trước khi nằm một đống dưới lavabo. Một vét tét ngay trên trán thằng bé, máu xịt ra có vòi rồi tuôn ra xối xả thành dòng đầy mặt nó. Miệng nó mấp máy nhưng không phát ra tiếng nào.
Ngay cả Harry cũng bàng hoàng trước cảnh tượng đó. Hắn không ngăn cản Mariam khi nàng vùng khỏi tay hắn cùng với tiếng thét hãi hùng. Thằng bé vẫn thở. Tiếng khóc thảm thiết của nó hòa lẫn tiếng khóc đau lòng của mẹ nó. Nàng ôm nó vào lòng, dỗ dành. Nàng thấm mặt nó bằng một cái khăn ướt. Chẳng hi vọng gì ở sự giúp đỡ bên ngoài vào lúc nguy cấp này vì nhà không có điện thoại mà Harry thì quá say không thể lái xe được. Căn nhà lại ở một nơi biệt lập, nằm ngay rìa một cánh đồng cỏ. Bên kia cánh đồng cỏ là một khu rừng nhỏ. Người láng giềng gần nhất thì ở cách đây hai cây số.

Sau cùng, tạ ơn Trời, dòng máu yếu dần rồi ngừng hẳn. Mariam nhẹ nhàng lau sạch máu trên mặt con trai nàng. Vết tét khá dài và nàng kinh hoàng khi thấy vết đứt gần sát bên một con mắt. Sáng mai nàng sẽ mời bác sĩ, còn bây giờ thì cho nó đi ngủ có lẽ là giải pháp hay nhất. Nàng bế thằng bé lên, đi ngang qua Harry. Hắn đã ngồi lại bàn, uống tiếp. Nàng băng cho nó vụng về rồi đặt thằng bé vẫn còn thút thít khóc lên giường. Nó không cho nàng đi nên nàng ngồi lại với nó cho đến khi tiếng nức nở lịm dần và thằng bé mau chóng rơi vào giấc ngủ say.
Nàng nhẹ nhàng trở lại nhà bếp. Đầu hắn gối trên hai cánh tay khoanh lại đặt trên bàn. Mariam lay hắn, hắn không nhúc nhích. Nàng đến bên bàn để dao, mở ngăn kéo, chọn một con dao lớn nhất, sắc nhất. Đóng ngăn kéo lại, nàng đến cạnh chống. Giơ cao con dao, cân nhắc, đắn đo… đâm hay chém?
Cách nào hay nhất đây?

Thật kỳ lạ! Vận mạng nàng trên cõi đời này cho đến giờ phút này là của người đàn ông đang gục trên bàn. Nàng đã lầm lỡ với hắn. Nàng ghét hắn nhưng không biết làm thế nào để thoát khỏi tay hắn. Đó là nguyên nhân của một cái gì đó lạ lùng thình lình xui khiến nàng cho nàng biết nên làm cái gì. Nàng không kinh ngạc chút nào về sự quả quyết của mình, nàng cũng không muốn hỏi ý kiến ai. Harry phải chết, vậy thôi. Nàng biết chắc thế.
Cái gì trong tay nàng vậy?

Một đoạn văn lạ lùng từ thuở thơ ấu ở trương học “Bạn đừng giết người nhé!” Phải chăng đó là sự nhận thức về cái khó là làm thế nào để thủ tiêu xác chết? Có lẽ. Nhưng đúng hơn, có thể đó là ý nghĩ thình lình xẹt qua trong trí nàng, ý nghĩ rằng chính nàng đứng trước vành móng ngựa và Bobby cô đơn. Những kẻ sát nhân luôn luôn bị bắt mà! Nàng chẳng có kế hoạch gì để che giấu “tội ác” của nàng. Nàng cũng chẳng có chút hi vọng nào là nàng sẽ qua mặt được nhà chức trách, nếu nàng giết người. Nàng không có được sự khôn ngoan đó, vậy thôi.
Chậm chạp, nàng hạ con dao xuống.

Có lẽ nàng không thể giết Harry, nhưng hắn phải bị kiềm chế bằng cách nào đó chứ. Những gì vừa xảy ra tối nay… Mariam rùng mình khi nhớ lại khuôn mặt máu me của con. Không, con thú man rợ phải bị giết hay nhốt lại…
Nhốt lại? Nàng suy nghĩ trong một thoáng. Phải rồi. Đó là câu trả lời. Căn nhà có những khoảnh đất rộng có hàng rào Harry đã mua gần một năm nay của những người chăn nuôi. Thật sự, họ là những người nuôi chó. Trong hầm ngầm dưới lòng đất họ đã xây một khoảng đất để tránh những cơn lốc mạnh. Chỗ đó hình vuông, mỗi cạnh gần ba mét, có rào chắn phía trên. Cái “chuồng” này cũng dùng cho việc sinh sản của những con chó cái. Harry mà ở trong cái “chuồng” đó thì hắn không bao giờ có thể hành hạ mẹ con nàng nữa.

Nàng nhìn đam đăm Harry. Có lẽ nàng sẽ vô cùng ngạc nhiên khi nghĩ rằng nàng có thể kéo được thân xác nặng nề của hắn ra khỏi nhà bép này, xuống hầm, đưa vào chuống. Nhưng giờ đây, nàng chỉ nghĩ rằng nàng phải làm việc đó.
Harry khẽ cựa mình một hai lần trong “cuộc hành trình gian khổ” đó. Tuy thế, hắn không tỉnh lại nổi trong cơn say chết người này của hắn. Khi đưa được người chồng say mèm vào trong cái chuồng đó, người nàng ướt đẫm mồ hôi. Trong chuồng có một tấm ván lát sàn, nên sàn chuồng cao hơn sàn nhà vài phân. Rõ ràng đã có những con chó ở đây. Mariam lên lầu lấy hai cái mền rồi trở xuống ném chúng trên sàn gỗ. Nàng đóng cửa chuồng lại. Có một ổ khóa lốn móc ở then cửa. Nàng bấm ổ khóa. Nàng không có chìa của nó mà cũng chẳng cần vì nàng không định mở nó ra nữa, mãi mãi…

Vài ngày đầu sẽ là những ngày ồn ào ghê gớm, dĩ nhiên. May mắn là căn nhà quá biệt lập nên tiếng gào thét phẫn nộ của Harry sẽ không ai nghe, Mariam đưa Bobby đến bác sĩ sáng hôm sau. Người bác sĩ kinh ngạc hỏi tại sao nàng không đưa nó đến ngay sau khi vừa xảy ra chuyện. Ông ta còn hỏi tại sao nó bị như thế.
- Nó té, đầu đập vào ống nước dưới lavabo tối qua. Tôi không thể bế nó đi bộ đến đây giữa đêm khuya. Chồng tôi vắng nhà.
Mariam nói dối, tin rằng Bobby sẽ không bác bỏ câu chuyện của nàng. Thằng bé không nói gì. Nó là một đứa bé ngoan ngoãn, điềm tĩnh, có vẻ lớn trước tuổi.
Khi hai người trở về nhà, họ nghe tiếng hét cảu Harry trong cơn giận cuồng điên. Bobby nép sát vào mẹ nó. Mariam ngồi xuống một cái ghế gần cửa sổ rồi bế nó lên lòng.
- Nghe đây con trai, chẳng có gì phải sợ hãi tiếng hét đó… nó chỉ là… Nàng ngưng một chút, một ý nghĩ chợt nảy trong đầu.
- Con có nhớ những chuyện cổ tích mẹ con mình đọc tối hôm kia không?
- Nhớ…
- Con có nhớ chàng hoàng tử bị biến thành con ếch không?
- Nhớ…
- Tốt, cha con cũng thế. Ông ấy bị biến thành một con gấu, một con gấu to xấu xí. Mẹ cho rằng đó là vì ăn ở ác độc nên bị trừng phạt. Bây giờ ông ấy đang ở dưới hầm nên ông ấy không thể làm hại mẹ con mình nữa.
Mắt Bobby tròn xoe.
Một tiếng thét ghê hồn từ dưới hầm vọng lên ngay lúc đó làm thằng bé run rẩy. Nó lắp bắp.
- Ông ấy… ông ấy… không thể ra… – Không – Mariam đáp, giọng tin chắc – Chắc chắn không thể ra được, chỉ vài ngày thôi, ông ấy sẽ không la hét nữa.
Nàng đặt thằng bé xuống đất và đứng dậy. Nàng nói: – Này Bobby, con không được kể cho BẤT CỨ AI về những chuyện này nghe chưa? Nếu con kể, họ sẽ thả ông ấy ra đấy.

Mắt thằng bé mở to, chứa đầy sự khủng khiếp. Mariam vuốt lại quần áo, vẻ mãn nguyện. Vậy là thằng bé sẽ không bao giờ kể cho ai.
Ba hôm sau, Mariam mới xuống đó. Hắn đang nằm.
Hắn có vẻ kiệt sức lực sau ba ngày la hét, đói khát. Thế nhưng vừa trông thấy nàng, hắn chồm lên. Những ngón tay run rẩy bấu lấy tấm lưới sắt chắc chắn của cái chuồng. Mariam dừng lại vài bước trước cái chuồng, đặt xuống đất một cái dĩa, một tô sữa. Nàng lấy một cái chổi gần đấy, đẩy dĩa thức ăn và tô sữa vào trong buồng.

Harry liếm nôi: – Tốt, tốt… thế nào… chuyện này là thế nào đây? Nàng không trả lời, tiếp tục đẩy những thứ đó vào chuồng. Giọng Harry vang lên dễ sợ:
- Đồ khốn nạn! Mariam! Thả tao ra! Mariam, mày có nghe tao nói không? Giọng hắn trở nên lưỡng lự ở những chữ sau cùng.
Thái độ thản nhiên của nàng khiến hắn lo lắng. Có phải đấy là người đàn bà hắn đã từng ngược đãi, vùi dập không? Có phải đấy là người đàn bà trước đây vẫn ngoan ngoãn phục tùng hắn không? Hắn thử lần nữa:
- Nghe đây, Mariam… anh cho phép em được ăn thịt bò đấy… à, anh quá say lúc đó nhưng em không thể nhốt anh mãi mãi như vậy, phải không?
Bấy giờ nàng mới trả lời hắn.
Nàng đứng thẳng lên. Đôi mắt xanh biếc của nàng nhìn thẳng vào mắt hắn mà không hề run rẩy.
- Vâng.
Hắn kinh ngạc:
- Cái… cái gì?
Nàng lặp lại:
- Vâng, em có thể nhốt anh ở đây mãi mãi. Em có thể và em phải làm thế. Nàng chỉ những thức ăn trên sàn.
- Anh ăn đi, tối mai em sẽ đem cho anh nhiều hơn.
Nàng quay đi, trở lên nhà.
Hắn sững sờ một lúc rồi la lên, không phải là tiếng kêu thét giận dữ cuồng điên nữa.
- Người ta sẽ biết! Cô không hiểu điều đó sao? Đồ ngu! Cô không thể thoát được! Cô sẽ bị bắt!
Thiếu phụ tiếp tục bước lên những bậc thang như thể không nghe thấy gì. Đến đầu cầu thang, nàng tắt đèn, ngọn đèn duy nhất của căn hầm. Cẩn thận, lặng lẽ, nàng đóng cửa lại.

Mỗi tối nàng đều đem thức ăn cho hắn. Ít khi nàng nói trước, mặc cho tiếng hét điên cuồng của hắn, tiếng chửi rủa man dại của hắn vang vọng khắp tầng hầm, nàng không nói một lời nào. Khi mùi hôi thối trong chuồng không chịu nổi nữa thì nàng làm như những người chủ trước vẫn làm. Nàng nối một ống cao su vào vòi của thùng rượu bỏ không gần đó, xịt nước vào sàn chuồng. Nước và những thứ bẩn thỉu trôi ra một cái rãnh nhỏ ngay cửa chuồng, trôi tiếp ra ống dẫn xuống cống. Nàng giữ vệ sinh cho cái chuồng bằng cách thỉnh thoảng rắc bột tẩy thơm. Nhiều lần trong tuần, nàng đẩy vào cho hắn một chậu nước và xà bông để hắn tắm rửa.

Nhiều tuần trôi qua, Harry bớt chửi rủa, đe dọa.
Hắn nghĩ những mẹo khác. Hắn nói với nàng đây chỉ là vấn đề thời gian. Công ty của hắn sẽ biết. Hơn nữa, nàng có thể nhốt hắn như vậy mãi ư? Làm sao nàng sống? Nàng kiếm tiền bằng cách nào? Những câu hỏi của hắn không làm nàng lo lắng. Vậy có nghĩa là nàng đã nghĩ đến những vấn đề ấy rồi.
Thật vậy, Mariam đã điện thoại cho công ty của Harry. Nàng xin lỗi họ là chồng nàng đã nhận được việc khác và mong họ bỏ lỗi vì nghỉ không báo trước. Harry không phải là nhân viên giỏi giang gì cho lắm nên họ chẳng cần. Họ yêu cầu hắn gởi trả cho công ty những mẫu hàng và sổ ghi hàng, họ chúc hắn may mắn. Mariam gói những thứ đó qua bưu điện. Thế là, cả cái công ty nọ, nơi mà gã đàn ông đang trong chuồng hi vọng là sẽ làm rùm beng về sự biến mất của hắn đã lặng lẽ cho hắn vào quên lãng.

Những tuần lễ sau khi giam Harry trong chuồng là những ngày nhàn hạ của hai mẹ con Mariam. Họ thường đến những khu vườn gần đó để hai dâu rừng. Chưa bao giờ Mariam lại hạnh phúc như thế. Tuổi thơ của nàng là một chuỗi ngày dài của những thống khổ tiếp nối. Cuộc hôn nhân của nàng với Harry mà nàng cho là sự giải thoát chỉ là sự chuyển đổi nàng sang tay một con quái vật mới, ghê gớm hơn cha nàng. Giờ đây, nàng đã tự do, lần đầu tiên trong đời, nàng được hưởng tự do. Giờ đây, chứng nhức đầ lẫn cảm giác kỳ lạ đó đã bớt hành hạ nàng. Vào mùa thu này, Bobby sẽ đi học và nàng sẽ tính chuyện tương lai. Những lời Harry nói về khả năng xoay sở để kiếm sống của nàng, nàng vẫn nhớ. Nhưng hiện giờ, với số tiền đã dành dụm được, nàng chẳng lo lắng gì cho đến mùa thu.

Mùa thu đến, nàng cũng chẳng phải lo lắng gì vì mọi sự tốt đẹp đã chờ đợi nàng. Bà Jenkins, người quản lý tư viện của tỉnh qua đời. Vốn là người yêu sách, nàng xin nhận việc đó. Cũng có vài người xin làm và Mariam tuy là dân mới đến nhưng lại là người duyên dáng, đáng yêu, tính tình trầm lặng, ngăn nắp, có đầu óc khoa học… Trong đơn xin việc, nàng cho biết bị chồng bỏ, có lẽ vì lý do đó, vì thương hại nàng, họ chọn nàng. Lương của nàng cũng chẳng được bao nhiêu, nhưng ước muốn của nàng cũng không nhiều: chỉ đủ để nuôi Bobby, nàng và “con gấu” kia. Sự tưởng tượng của nàng bỗng hóa thành sự thật. Vì Harry đã biến dạng gần như gấu. Nhiều lần, khó khăn lắm nàng mới nhận ra sinh vật râu tóc xồm xoàm trong chuồng là chồng nàng. Hắn thật sự là một con gấu cho ăn vào ban đêm, ban ngày bị bỏ mặc ở đó.

Nhưng nếu cứ bỏ mặc hắn như thế trong những tháng mùa đông thì thật không ổn vì hắn đã thay đổi nhiều. Hắn thường nắm những mắt lưới cửa chuồng lắc dữ dội, thường khua những cái dĩa sắt ầm ĩ, thường kêu gào ghê rợn. Một đêm nọ, khi đem đồ ăn xuống cho hắn, nàng thấy hắn đang bám lấy những mắt lưới, run rẩy. Hắn nhìn nàng. Một giọt nước mắt lăn trên má hắn, đọng trên bộ râu gớm ghiếc của hắn. Rồi những giọt nước mắt nối tiếp nhau rơi.
Con gấu đang khóc! – Mariam! Mariam!
Nó nức nở. Thật lạ lùng! Gấu mà biết tên nàng! Ngay sau đó nàng nhớ đó là Harry trong lốt gấu.
- Mariam… làm ơn… làm ơn thả anh ra… anh đã hiểu anh đối xử không phải với em… anh hứa anh sẽ ra đi… không bao giờ làm em buồn nữa… thả anh ra đi…
Mắt Mariam long lanh ngấn lệ. Nàng là người đa cảm. Trong nàng dấy lên một niềm thương cảm vô bờ đối với sinh vật trong chuồng. Thật khẽ khàng, nàng đặt những dĩa thức ăn xuống sàn.
- Em xin lỗi.
Nàng nói nhẹ nhàng trước khi trở lên. Đêm đó, nàng không ngủ được.

Nàng thấy cuộc đời nàng, thế giới nàng đang sống mới buồn làm sao! Nàng thương con gấu khốn khổ đó quá. Phải chi nàng làm được cái gì đó để xoa dịu nó, nhưng làm gì bây giờ? Rất nhiều lần sau này, nàng đã nghĩ đến điều đó mỗi khi thấy thương xót con gấu, nhưng nàng vẫn không biết làm sao…
Bobby đã lớn. Nó hiểu mà không cần hỏi, rằng nó không bao giờ được đưa bạn về nhà. Nếu làm thế, chẳng bao lâu bạn bè nó sẽ biết và người trong tỉnh sẽ hiểu rằng người quản lý thư viện duyên dáng kia cùng với đứa con trai đang sống một cuộc sống quái đản, khi đó chẳng ai dám gần gũi nữa.
Chắc chắc sự tin tưởng về câu chuyện người cha hóa gấu sẽ chẳng tồn tại lâu trong đầu Bobby nữa. Phải có một ngày nó tò mò, nó sẽ nhìn vào nắp hầm trên mặt đất ngoài vườn. Khi còn bé, nó có thể bị đánh lừa bởi hình dạng dị hợm đó, cứ nghĩ chắc đó là một con gấu thật.
Ngay cả mẹ nó cũng nghĩ thế mà!
Nhưng khi đã lớn, đã biết nghĩ, nó sẽ hiểu hết. Nó sẽ làm gì? Báo cảnh sát? Để có lại người cha mà nó chỉ nhớ mơ hồ là một người nhẫn tâm, tàn ác? Khi đó, mẹ nó sẽ ra sao? Đi tù… hay vào nhà thương điên? Không, không! Nó không biết cái gì trong hầm. Không thể và cũng KHÔNG CHỊU NỔI SỰ THẬT…
Thời gian chậm chạp trôi qua với con gấu.

Nhưng năm tháng trôi nhanh đối với mẹ con Bobby rất nhiều. Tiểu học, trung học, … chiến tranh! ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN!
Hitler đã tiến quân qua Tiệp Khắc, Ba Lan… và Trân Châu Cảng. Bobby đăng lính hải quân. Nó hôn lên khuôn mặt đầm đìa nước mắt của mẹ nó, trấn an nàng. Nó nói chiến tranh sẽ qua mau thôi, cho mẹ nó an lòng. Nhưng mẹ nó không an lòng. Nguồn sống của nàng đang rời bỏ nàng.
Mariam cho con gấu biết chuyện tối hôm đó.
Những năm sau này nàng có thói quen ngồi bên ngoài chuồng, trên một cái ghế đu vào những buổi chiều tối. Những lúc đó Bobby đi chơi bóng rổ hay đi dự sinh hoạt ở trường. Nàng thích nói chuyện với con gấu. Bây giờ nó đã biết rằng không nên nói gì về chuyện tự do của nó nữa. Thay vào đó, nó im lặng nghe nàng kể những chuyện ở thế giới bên ngoài, về những thành tích thể thao của Bobby, những chuyện xảy ra ở thư viện…

Những ngày ấy thật êm đềm!
Mariam đặt một ngọn đèn ngay cạnh ghế đu để thỉnh thoảng nàng đọc sách cho con gấu nghe. Con gấu có vẻ thích thú. Tối nay, khi nàng cho nó biết Bobby đã đi, hình như nó lộ vẻ buồn rầu. Nó bỗng nói:
- Mariam…
Giọng nó khàn khàn – Thả… thả anh ra đi… cho anh được săn sóc em khi Bobby không còn ở nhà. Nàng nhìn hắn, kinh ngạc. Bao nhiêu thời gian trôi qua rồi mà. Nó vẫn không hiểu, vẫn còn mơ tưởng.

Vẻ buồn bã, nàng đứng dậy, tắt đèn và đi lên. Đến đầu cầu thang, nàng đóng cửa nhẹ nhàng nhưng kiên quyết trước lời van xin của nó. Sau thời gian dài như vậy mà nó vẫn không hiểu là người ta không bao giờ để những con thú hoang được thả rông. Chẳng có gì phải lo lắng, âu sầu cho những con cọp, sư tử trong sở thú. Cũng chẳng có gì phải nghĩ ngợi về vẻ hiền lành, thuần hóa của chúng. Chỉ có điều là không được cho chúng tự do.
Không lâu sau đó thì có thư của Bobby. Nàng đọc cho con gấu nghe (Nó đã học được bài học mới sau lần sai phạm đó và biết cách ngoan ngoãn, vâng lời hơn bao giờ).

Và không bao lâu, Bobby được về phép lần đầu. Da rám nắng, khỏe mạnh, cường tráng, trông thật thích mắt. Mariam ước sao con gấu trong thấy nó.
Tận dụng những ngày phép ngắn ngủi, Bobby sửa sang nhà cửa. Chỉ còn một hôm nữa thôi. Nó đứng nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ nhà bếp. Mariam đến cạnh nó và nó nhìn nàng, vẻ mặt đăm chiêu.
- Mẹ à, con thấy bọn nhóc chạy chơi trong vườn nhà mình hôm qua đấy. Hàng rao có lẽ hư hết rồi.
Mariam gật đầu:
- Ừ, nó cũ quá rồi.
Bobby đứng dậy, nhíu mày: – Con không thích thế, con không muốn tụi nó tới đây phá phách. Để con lên tỉnh mua ít gỗ và dây thép gai… Nó làm việc suốt ngày hôm đó. Luôn ngày hôm sau, cho đến khi sắp tới giờ lên đường. Mồ hôi đầm đìa nhưng vẻ mặt mãn nguyện.

- Con có gắn những tấm bảng “Cấm vượt qua” ở quanh vườn. Hàng rào giờ thì chắc chắn lắm ẹm ạ. Cứ để tụi nhóc leo qua hàng thép gai đó coi!
Nó đặt tay lên vai mẹ nó: – Mẹ, chẳng bao lâu nữa con sẽ về…
Nhưng nó không bao giờ trở về. Nàng đang ở thư viện thì điện tín tới. Mọi người đều thương nàng. Nhiều người xin đưa nàng về nhà nhưng nàng từ chối tất cả. Nàng muốn đi bộ một mình trên con đường quen thuộc. Nàng cũng không lộ vẻ gì cho tới khi đến trước chuồng gấu. Lúc đó, nàng mới quỵ xuống sàn xi măng lạnh lẽo. Nàng khó như mưa, khóc thỏa thuê cho nguôi nổi đau.
- Bobby chết rồi… nghe không, gấu? Bobby… chết rồi!
Qua hàng rào lưới sắt, những ngón tay móng dài từ lâu không cắt thò ra như muốn đánh nàng. Những giọt nước mắt lăn dài trên bộ râu rậm. Con gấu nhỏ lệ cho nỗi đau mất con hay cho sự thù hận cuộc đời? Nài ai biết? Đời sống vẫn tiếp tục trôi.
Nỗi đau nguôi ngoai dần trong lòng Mariam.
Nàng tiếp tục công việc ở thư viện. Có Bobby hay không, nàng vẫn phải nuôi lấy nàng và con gấu. Tiền tử của Bobby nàng để nguyên không đụng đến. Một ngày nào đó, khi không làm việc nữa, nàng sẽ cần đến nó.

Cuộc sống trong căn nhà đó đều đặn trôi qua theo thời khóa biểu không thay đổi. Con gấu đã hoàn toàn đáng tin. Vào những ngày cuối tuần đẹp trời, Mariam đã dám mở cánh cửa phía trên hầm, tức là cái nắp trên mặt đất ở ngoài vườn, cho con gấu được hưởng khí trời trong lành. Và nàng sung sướng khi thấy nó đứng bật dậy, lại ngay dưới cửa sổ, hít những hơi dài của không khí ngoài bầu trời tự do. Đôi lúc nó với tay nhảy lên nhưng vô ích vì ô cửa khá cao lại còn một tấm lưới sắt chắc chắn như tấm lưới cửa chuồng. Đôi lúc nó nhón chân, cố rướn cổ nhìn ra ngoài nhưng vô vọng. Nàng thường đem cho nó những bó hoa rừng. Nó thích lắm, vùi đầu vào bó hoa hít lấy hít để. Nàng vui thú làm những việc đại loại như thế vì nàng thật sự đã thích nó. Càng ngày, sự tồn tại của nàng trên cõi đời này càng là nguồn an ủi lẫn sự sống còn của nó.
Năm tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua.

Dĩ nhiên, cũng có những lúc khó khăn, chẳng hạn như những lúc con gấu ốm nặng. Thật là một cực hình cho Mariam khi nó kêu gào đòi mời bác sĩ. Rồi nó hiểu rằng chuyện đó không thể có được. Nàng không biết làm gì ngoài việc cầu nguyện. Thế mà lời cầu nguyện của nàng được đáp lại. Con gấu hạ sốt, không rên rỉ nữa, rồi đỡ dần. Lại có những lúc chính nàng ốm. Vào môt mùa thu nọ, nàng ngã bệnh trong những ngày phép. Nàng ốm nặng đến nỗi không thể tự đến bác sĩ được. Cũng không có cách nào gọi bác sĩ đến nhà. Mà có gọi cũng không được dù nàng là chủ nhà nhưng lại là người giữ con gấu trong chuồng. Hình như nàng cũng bị giam cầm trong một loại ngục tù. Cơn sốt dữ dội hành hạ nàng nhiều ngày. Cái duy nhất giúp nàng không gục ngã là tiếng kêu thống thiết của con gấu. Bỏ mặc cho nó chết thì dễ quá… nhưng nàng không thể… con gấu đói… nó cần có nàng…
Vì thế, nàng gom hết sức lực để sống và để nhìn thấy con gấu vục mặt vào những thức ăn mà với cố gắng phi thường, nàng đem xuống cho nó. Nàng vui sướng thấy nó ăn ngon lành, đó là phần thưởng xứng đáng cho nỗ lực đáng thương của nàng.

Có lẽ chuyện ghê gớm nhất đã xảy ra là khi chảo mỡ bị bắt lửa trên bếp. Trong cơn sợ hãi điên cuồng, nàng đã dập tắt được ngọn lửa. Tay nàng bị bỏng nhiều chỗ. Không phải sự đau đớn làm cho nàng sợ. Điều làm nàng sợ là ngọn lửa lan quan đồ đạc. Con gấu sẽ bị thiêu sống, ý nghỉ đó làm nàng phát ốm. Nàng vắt óc tìm một giải pháp nếu chuyện đó xảy ra thật. Nàng chợt nhớ tới Harry, người chồng cũ của nàng (nàng quên hắn nhiều năm qua) có một khẩu súng lục. Nàng lên lầu, tìm thấy nó trong tủ cũ của Harry. Nàng thấy an tâm. Vật này sẽ đem đến cho con gấu cái chết nhanh chóng, không đau đớn.
Một ngày nọ, lò sưởi bị sụp. Việc sữa chữa nó không trong khả năng của nàng. Thế là cà phê cho con gấu đem đó được pha thêm thuốc ngủ. Ngày hôm sua, khi nó đang say ngủ bì thuốc, nàng lấy khăn trải giường phủ kín cái chuồng, kê những đồ đạc không dùng sát cửa chuồng rồi gọi thợ xây.
Những người thợ không hề biết chỉ cách đó vài thước có một sinh vật đã từng là người, đang ngủ say.

Mùa hè năm đó, tôi chẳng có việc gì, hơn nữa, tôi mới mười sáu tuổi. Cha mẹ tôi chết trong một tai nạn xe hơi cách đó vài tháng. Tôi đi choi với ông nội tôi ở Wilton Falls. Ông nội tôi là một quan tòa. Ông thường dùng túp lều nhỏ ở đó vài lần vào mùa thu trong những cuộc săn bắn nhưng năm nay ông đi sớm cùng tôi. Có lẽ ông nghĩ rằng thú câu cá và những trò chơi trong rừng sẽ tốt cho tôi, giúp tôi quên đi chuyện bất hạnh.

Tôi ở trong rừng cả ngày hôm đó, chỉ có mình tôi. Khi tôi đi ngang qua khu vườn có hàng rào bao quanh của gia đình Winters, lúc đó đã mục nát. Tôi đạp thử vào dây thép gai. Nó bung ra. Nhanh nhẹn, tôi nhảy qua và rơi vào khu vườn im lìm. Một ngôi nhà cổ kính có vẻ tiêu điều hiện ra trước mặt tôi. Tôi ngạc nhiên. Có ai trong đó không nhỉ? Có lẽ không vì trông có vẻ hoang phế quá. Tôi đi loanh quanh dò xét và tôi bỗng thấy một cái nắp bằng gỗ đã mục trên bãi cỏ sau nhà. Trong hầm tối thui. Giây lát sau, tôi mới nhận ra có ánh đèn leo lét. Thẳng ngay bên dưới có một cái gì trông giống như cái chuồng. Có cái gì thù lù trong đó.

Một cái bóng? Không, hình như nó cử động.
Thình lình, tôi thấy một đầu tóc rối bù, một cặp mắt trắng dã, thất thần, ghê rợn mà tôi chưa bao giờ trông thấy. Tim tôi như muốn rớt ra ngoài. Không thể tin được! Tôi cứng người như thể bị cặp mắt đó giữ chặt. Cái đầu bờm xờm quay đi và tôi thoát! Tôi chạy, chạy như điên giữa ánh nắng gắt của buổi trưa hè, trên bãi cỏ của khu vườn ma quái. Nhảy qua những dây thép gai, mặc cho những gai nhọn xé rách áo quần, da thịt. Tôi chạy chậm dần khi gần đến túp lều của ông tôi. Tôi cảm thấy xấu hổ vì tôi chẳng còn bé bỏng gì, mười sáu tuổi rồi cơ đấy! Thế mà chạy như thỏ… nhưng hình ảnh đôi mắt đó hiện lại trong đầu làm tôi cứ toát mồ hôi.

Ông tôi đang lúi húi bên bếp khi tôi vào.
- Cháu đã về đấy à… ông đang không biết cháu ở đâu… sắp ăn rồi… Tôi đứng im, lưng dựa cửa, thở dốc:
- Ông ơi…
Cố trấn tĩnh, nhưng giọng tôi cứ run. Ông tôi quay lại. Mắt ông loang loáng:
- Chuyện gì vậy cháu? Sao cháu hoảng hốt vậy? Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh nhưng không được.
- Ông ơi, ai sống trong ngôi nhà ở bìa rừng kia vậy? – Ông tôi nhíu mày.
- Ở bìa rừng… à… nhà Winters… có chuyện gì vậy? – Cháu vừa ở đó về, cháu thấy…
- Ở đó? Xung quanh có hàng rao mà? Cháu không leo rào vào nhà người ta đấy chứ?
- Nhưng hàng rào thép gai mục nát hết rồi… cháu không thấy có bảng cấm – à, có lẽ bị mất rồi… nhưng ở đây ai cũng biết đó là khu vực của gia đình Winters.
- Nhưng cháu không biết. Cháu nhìn vào cửa một nắp hầm… có cái gì trong đó giống như cái chuồng… có một người đàn ông…
Ông tôi kéo một cái ghế lại bên bàn, ngồi xuống ôn tồn:
- Cháu kể đầu đuôi cho ông nghe nào… cháu nói cái gì? Cái chuồng? Một người đàn ông?
Tôi kể lại. Ông tôi có vẻ không tin.
- Cháu thấy thật chứ? Không tưởng tượng chứ? Ai cũng biết bà Winters sống ở đó một mình. Cuội đời bà ta thật bi thảm. Chồng bỏ, con trai chết trận. Ông không muốn những tiếng đồn không tốt về bà ta lan khắp nơi do cháu của ông bịa ra, điều đó sẽ xúc phạm ghê gớm đến bà ấy.
- Không, cháu nói thật mà! Ông đến mà xem…
Có lẽ lời lẽ thành khẩn của tôi làm ông tơi ngạc nhiên. Ông đứng dậy.
- Được, đi, nhưng ông không thích trò này chút nào. Ông tin chắc cháu chỉ tưởng tượng.
Đêm đó, cả tỉnh Wilton bàng hoàng.
Cảnh sát cưa ổ khóa cho Harry ra ngoài bầu trời tự do. Giờ đây, hắn đã là một ông già mắt kém, chân run. Người nữ quản lý thư viện dịu dàng kia được đưa vào một “nhà bảo vệ”, lời yêu cầu duy nhất của nàng là “con gấu” phải được chăm sóc cẩn thận. Khi người ta hứa sẽ trông nom hắn, nàng mới chịu đi. Thật ra, cả hai đều được đưa đến nhà thương điên của tỉnh.

Cả tỉnh ồn ào cho đến hai tuần sau. Báo chí địa phương đăng những hàng tít lớn: “Người chồng bị nhốt trong cũi 30 năm”.
Bên dưới hình tôi, họ viết:
‘Cậu bé dám nhìn vào ngục tối của mụ phù thủy”. Dưới hình của Harry: “Ông lão bị nhốt trong cũi 30 năm”. Và dưới hình Mariam: “Mụ phù thủy của tỉnh Wilton Falls. Mụ biến chống mình thành một con gấu”. Đó là chuyện rắc rối cho tôi. Tự nhiên, tôi trở thành một vị anh hùng! Nhưng khi nhìn kỹ những bức ảnh của ông bà Winters, tôi thấy lạ lạ. Cả hai đều có nét mặt như con nít khi bị dẫn đi.

Mariam được đưa vào nhà thương điên của quốc gia. Nhưng xử trí với Harry lại là cả một vấn đề. Những bác sĩ tâm thần chẳng làm gì được. Ông ta không nói năng gì.
Sau cùng, họ kết luận rằng trí não ông ta trở nên đần độn vì những năm tháng dài bị giam trong chuồng. Ông ta hoàn toàn vô hại, có thể được trông nom riêng.
Nhưng thế nào là “trông nom riêng”?
Người ta phản đối việc giam lỏng ông ta ở một nơi vì họ cho rằng những năm còn lại trong đời, ông ta đáng được hưởng “tự do” như…
Người ta bàn bạc nhiều về việc ấy. Cuối cùng, Harry được trả về nhà cũ. Một nhóm người xung phong được thành lập, thay phiên hàng ngày, từng người đến trông nom ông già, đem thức ăn đến, đem áo quần ông ta đi hiệu giặt… Nhiệm vụ của họ cũng có cả việc “nhân hóa” ông ta. Nhưng họ thất bại hoàn toàn vì Harry chẳng màng nói chuyện với BẤT CỨ AI.
Thế sự tự do của Harry có ý nghĩa gì đối với ông ta trong những ngày cuối cùng của cuội đời ông ấy?
Cũng lại tôi khám phá ra lần nữa.

Bất hạnh thay!
Một đêm tháng tám nóng bức, sáu tuần sau khi ông ta được thả về nhà cũ, tôi trở lại nơi đó, quyết định ghé qua nhà để coi ông ta ra sao. Khi tôi đến thì căn nhà tối đen trừ ánh đèn yếu ớt hắt lên từ dưới tầng hầm. Tôi nhớ lại những lời đồn là căn nhà không bị xáo trộn một thứ gì, không một đồ đạc gì được đụng đến. Họ nói… ngay cả giường ngủ cũng không có ai nằm. Phải chăng sau những năm ấy, Harry chỉ có thể ngủ ngon giấc trong cái chuồng cũ của ông ta? Có phải ông ta trở lại đó hàng đêm?

Rón rén, tôi bò đến bên nắp hầm. Qua ánh sáng yếu ớt, tôi nhận ra cái chuồng. Kế bên cửa chuồng là cái ghế đu mà Mariam vẫn ngồi. Ngay sau đó, tôi nhận ra cái bóng bên cạnh là Harry. Ông ta ngồi trên sàn, cằm gác lên tay ghế. Tôi ngạc nhiên… có một hình ảnh mơ hồ lãng đãng trong đầu, tôi không nhớ ra, bất chợt nó hiện rõ. Trong phòng ngủ của ông nội tôi có một bức tranh tựa đề “Kẻ than thở của người chăn cừu”. Đó là một bức tranh vẽ hình một con chó u sầu ủ ê nằm cạnh quan tài của chủ nó vừa chết, một người chăn cừu. Sự liên tưởng hình ảnh đó với cảnh tưởng dưới kia làm đau nhói tim tôi. Tôi không thể nhìn thêm nữa. Nhưng khi tôi sắp đứng dậy thì cái bóng khốn khổ kia cử động. Cái đầu rối bù ngước lên, miệng há ra. Một tiếng gào ma quái, rùng rợn. Tôi đưa tay bịt chặt tai lại. Nhưng tôi vẫn nghe. Nó khóc, khóc lớn hơn. Tiếng khóc xé ruột, đau buốt tim gan, tiếng khóc khao khát, tiếng khóc ước ao của một con gấu đã được thuần hóa đòi lại người chủ dịu hiền của nó.

Tôi bỏ chạy.
Khi thoát khỏi khu vườn ma quái đó, tôi chạy như kẻ mất hồn dưới ánh trăng. Lần này tôi cũng bị rượt đuổi bởi sự khủng khiếp. Nhưng sự khủng khiếp lần này do chính tôi gây ra và tôi biết mình không bao giờ thoát được.
Sáng hôm sau, người ta tìm thấy Harry nằm chết trong chuồng. Họ nói do bệnh tim. Sau đó tôi thường thấy những cơn ác mộng trong giấc ngủ. Có lẽ tôi la hét nhiều, nói nhảm nhiều. Vì thế, một sáng nọ, lúc ăn điểm tâm, ông tôi bảo tôi:
- Theo ông thì cháu không nên có mặc cảm tội lỗi gì về việc ấy. Nó phải như thế thôi.
Tôi gật đầu: – Vâng, cháu hiểu…
Nhưng tôi vẫn sống như kẻ trong mơ. Ông tôi lo lắng cho tôi hơn.
- Đã đến lúc phải xóa tan cái bóng đen trong đầu cháu rồi đấy. Ông sẽ đưa cháu đến thăm bà Mariam.
Tôi đi một cách miễn cưỡng. Nhưng cuộc viếng thăm lại hóa tốt. Bà Mariam vui thích khi có bạn, bà trò chuyện thật vui vẻ. Bà đã biết CON GẤU của bà đã chết. Bà nói rằng bà buồn lắm nhưng bà nói thêm như một triết gia là dù sao nó cũng đã quá già. Rồi thật bất ngờ, bà nói nếu nó còn sống và còn ốm lần nữa, bà sẽ cho nó ngủ mãi mãi.

Ông tôi liếc nhìn tôi đầy ngụ ý. Rõ ràng, tôi chẳng cần thêm chứng cớ gì để biện minh cho việc tôi tố giác bà Mariam là sai về… mặt nhân đạo. Theo ông tôi thì cuộc viếng thăm đó thật tốt đẹp. Nhưng theo tôi, ở mặt khác nó ngược lại hoàn toàn vì bà Mariam là người tử tế, tốt bụng. Bà nói trông thấy tôi, bà nhớ đến con trai bà. Bà mong tôi đến thăm bà thường xuyên. Thật ngạc nhiên, tôi nhận lời sẽ làm vui lòng bà.
Tôi giữ lời hứa.
Phải đó là cách xoa dịu mặc cảm tội lỗi của tôi? Vì tôi đã phá vỡ cuộc sống thích hợp của vợ chồng họ? Tôi không biết, nhưng tôi biết một điều là trong những cuộc trò chuyện với bà ấy, tôi đã HIỂU TẤT CẢ những nguyên nhân dẫn đến sự cầm tù Harry.
Tôi nói với ông tôi: – Bà ấy không hẳn là diên đâu, không hoàn toàn điên, trừ việc CON GẤU… chính Harry đã gây nên chứng điên cho bà ấy…
Ông tôi nhìn tôi thở dài:
- Vậy là cái bóng đen đó vẫn còn lởn vởn trong đầu cháu!
Mariam được đưa về tỉnh, không phải ở nhà thương điên nữa. Thà vậy đi, thấy lòng mình nhẹ nhõm. Tôi vẫn đến thăm bà ấy nhưng thưa dần. Rồi tôi tốt nghiệp đại học, đi làm, lập gia đình, dọn đi xa.
Những cuộc thăm viếng giờ chỉ còn là những thư từ, những thiệp mừng năm mới và bây giờ…
Tôi nhìn lại bức thư trong tay.

Vậy là từ đây chẳng còn viết thư cho bà ấy nữa. Chẳng còn ân hận nữa. Mariam đã trả xong món nợ của bà cho xã hội và xã hội đã vừa lòng. Về phần tôi, RIÊNG TÔI, tôi ao ước được sống lại những ngày hè năm đó, được sống lại vào đúng cái lúc tôi nhìn vào cặp mắt của Harry.
Lần này, tôi sẽ nhìn vào cặp mắt gần lòa của ông ấy và sẽ lặng lẽ bỏ đi.Tâm chùi hai tay vào áo blouse trắng, nhanh nhẹn đi sang phòng cấp cứu bên cạnh.
Nàng thấy Nhân đang đứng bên chiếc giường sắt khám bệnh màu trắng. Trên giường có người nắm bất động dưới ánh đèn trắng xanh. Lại gần người yêu, ghé mũi vào cổ chàng hít mùi nước hoa đàn ông hiệu Fahrenheit mà nàng rất ưa thích, Tâm khẽ hỏi:
- Anh tính sao với cái xác này, anh Nhân?

Tâm và Nhân là hai sinh viên nội trú của bệnh viện liên- xã tại một tỉnh nhò bờ biển Bắc- Âu. Họ là đồng nghiệp và cũng là người yêu của nhau. Mỗi khi tới phiên trực đêm, họ xin trưởng toán cho họ vào chung danh sách, để được gần nhau khi làm việc. Nhân không quay lại nhìn Tâm, mà khẽ nói cho nàng đủ nghe thấy:
- Người này mới chết được hơn một giờ. Xác hãy còn hơi ấm. Nhân điện chưa tắt hẳn ở tế bào tim.
Tâm mỉm cười ranh mãnh:
- Anh lại tính hù ông gác cửa mới chứ gì. Nhưng, người ngày chết thường do bệnh hoặc tuổi già, hay chết vì nguyên nhân đặc biệt, hở anh?
- Chết thường. Không có gì đặc biệt đâu. Đừng lo!
- Thôi em ở đây. Anh chạy đi kiếm con mèo mọi khi của bác lao công ở cuối bệnh viện. Trong khi chờ đợi, em tháo dây buộc người chết, rút hết kim chích ở tay chân ra, sửa sang lại chiếc áo bệnh viện cho ngay ngắn giùm anh nhé. Anh sẽ trở lại đây trong mười lăm phút nữa.
Xác chết là một thiếu phụ trạc bốn mươi tuổi. Trên tấm bảng bệnh viện có ghi: Bệnh tim.

Mặt xác chết chưa xanh hẳn. Mái tóc nâu xước ngược để lộ chiếc trán ngắn. Mắt nhắm nghiền. Hai dòng lệ khô chạy dài từ kẽ mắt xuống hai bên sóng mũi khá cao. Miệng mím chặt, môi dưới cong lên đẩy môi trên, hai mép trễ xuống, mang lại vẻ nuối tiếc vô vàn. Bờ ngực phẳng, bất động. Bụng lép kẹp. Hai cánh tay để xuôi hai bên đùi thon thả với nửa dưới của cặp đùi lộ ra khỏi vạt áo bệnh viện. Hai đầu gới hơi co lên. Hai cẳng chân dài và đôi bàn chân nhỏ nhắn có ngón cong queo ghi tàn lực cuối cùng của người xấu số trước thần chết.

Tâm xoay giường cho cạnh bên trái hướng về cửa ra vào khép hờ. Ngoài cửa, bên trái là hai cánh cửa sắt sơn xanh đóng chặt, bên phải là hành lang chạy dài chừng mười thước trước khi gặp hành lang khác cắt ngang. Từ đó đi về bên trái là hướng nhà xác, đi về bên phải là tới quầy của người gác bệnh viện khuất sau tường hành lang. Trước khi đến quầy của người gác một quãng, có cái cửa kính trên gắn tấm bảng sắt ghi ba chữ “Phòng Thí Nghiệm”. Phòng này có cửa thông với phòng cấp cứu, chỗ có xác chết đang nằm trên giường. Qua khỏi quầy sẽ tới cái cửa có hai cánh bằng sắt sơn xanh. Bên ngoài cửa là một hành lang nhỏ có cửa kính dày nhìn ra sân bệnh viện. Cửa này mở đóng bằng nút bấm theo hệ thống điện tử chạy từ trong quầy.

Nhân từ hành lang ngoài đi qua phòng thí nghiệm vào phòng cấp cứu, tay ôm con mèo đen mắt xanh lè. Chàng kéo một chiếc bàn thấp tới gần giường có xác chết. Đặt con mèo cho hướng đầu về giường xác chết, hai tay vẫn giữ chặt con vật, Nhân hất hàm ra hiệu cho Tâm. Nàng lẹ làng đi ra mở rộng hai cánh cửa phía trái giường xác chết, rồi đứng nấp bên ngoài cửa. Nhân “Suỵt!” thật mạnh, bàn tay phải đạp vào lưng con mèo, bàn tay trái đưa thẳng ra phía xác chết. Con mèo gào một tiếng sắc nhọn, nhún hai chân sau, nhảy vọt qua xác chết, chạy biến trong hành lang.

Xác chết ngồi vụt dậy, xoay người, tút xuống đất. Hai chân loạng choạng, hai cánh tay giơ lên như lấy thăng bằng, xác chết đi từng bước ngắn và cứng ngắc về phía cửa. Khi xác chết vừa bước ngang thành cửa, Tâm ló đầu, xoay người đi nhanh về phía tay mặt. Xác chết giật mạnh một cái như được tiếp thêm điện, đi nhanh theo Tâm. Tới đầu hành lang, Tâm từ từ quẹo tay mặt một lần nữa, chạy lẹ về phía quầy cùa người gác bệnh viện. Xác chết chạy theo. Tới cửa phòng thí nghiệm, Tâm lẹ làng đẩy cửa bước vào, đóng sập ngay lại. Xác chết sẵn trớn chạy luôn qua mặt cửa phòng thí nghiệm, tới quầy của người gác bệnh viện.
Đó là một người đàn ông trung niên, tóc hoa râm, bụng phệ, đang đứng sau quầy. Nghe tiếng chân chạy, hắn ta nghiêng đầu ngó ra. Hắn mở to hai mắt khi thấy trong ánh đèn. Neon lạnh lẽo một thân hình ngất ngư mắt nhắm nghiền, mặt mũi méo mó xanh xao, hai tay giơ ra đàng trước, hai chân đi đất cứng đơ bước mau, xăm xăm nhào về phía quầy.

Hắn ta la lớn:
- Đứng lại!
Xác chết vẫn sấn tới. Người gác bước ra khỏi quầy, hai tay cầm hai đầu cây gậy, giơ ra đàng trước cản đường. Xác chết đâm sầm vào cây gậy, hai cánh tay ôm ngang eo người gác, đầu gục lên ngực hắn ta, mớ tóc nâu tung lên.
Im lặng! Người gác há miệng, kêu không thành tiếng. Hắn mất thăng bằng, ngã ngồi xuống đất. Xác chết đổ theo, đè lên người hắn, bất động. Sau nữa phút bàng hoàng, không thấy gì lạ, người gác vùng lên, đẩy xác chết sang một bên. Hắn lồm cồm bò dậy, loạng choạng ra đứng dựa vào quầy, thở hổn hển. Đôi mắt hắn lạc thần hướng về xác chết cong queo trên sàn đá cẩm thạch trắng xám.
Vừa lúc đó, hai sinh viên bác sĩ mặc blouse trắng đi tới. Một người chỉ xác chết, hỏi:

- Ai mang xác này ra đây? Làm chúng tôi kiếm hoài! Thôi, ta chịu khó khiêng để vào nhà xác cho yên chuyện đi.
Nam sinh viên nắm hai nách xác chết. Nữ sinh viên cầm hai chân xác chết. Họ lanh lẹ mang xác chết đi, để mặc người gác trố mắt nhìn theo.
Sáng sớm hôm sau, Nhân đưa Tâm về tận nhà bằng xe mô- tô. Chào hỏi mẹ của Tâm xong, Nhân từ biệt Tâm, về nhà nghỉ, để chiều còn vào bệnh viện làm việc. Mẹ của Tâm dọn thức ăn sáng cho con gái. Trong khi ăn, Tâm kể cho mẹ nghe sự đùa nghịch của nàng và Nhân đêm trước.
Bà mẹ nghe xong, mắng yêu cô con cưng, kỷ niệm duy nhất của bà với người chống quá cố:
- Các co nghịch ngợm quá! Coi chừng hồn ma nào thiêng nó báo oán cho thì chết đấy!
Tâm uống ngụm cà phê sữa, chúm chím cười:
- Đó chỉ là cái xác không hồn, còn rớt lại chút ít nhân điện. Làm sao mà trở lại báo oán được, hở mẹ?
Bà mẹ chiều con gái, không trách móc nữa. Bà Tâm nhẹ nhàng nói:
- Con ăn xong, ra nằm ghế xích đu nghỉ. Mẹ sẽ nói cho con biết về quỉ nhập tràng.
Tâm thích thú gật đầu:

- Mẹ kể cho con nghe đi. Con thích những chuyện đó lắm. Hơn nữa, để coi có giống những điều con đọc trong sách hay không.
Trong bộ áo ngủ mỏng màu hồ thủy, Tâm nằm thoải mái gọn gàng trên chiếc ghế xích đu. Bà mẹ kéo ghế ngồi sát cạnh con gái. Bà âu yếm ngắm nàng một vài giây, rồi giơ cả hai bàn tay có ngón nhỏ dài ấm áp vuốt tóc, sờ má, nắm hai bàn tay nhỏ bé mềm mại của con gái bà. Tâm ngước cặp mắt vô cùng trìu mến, chiêm ngưỡng gương mặt phúc hậu của người mẹ thân yêu, mang thêm vào vết nhăn của thời gian.
Nàng mỉm cười, từ từ khép lại đôi mi có hàng lông dài cong, tỏ ý rất sung sướng. Những cử chỉ này đã được hai mẹ con trao đổi với nhau từ khi Tâm còn thơ dại.
Tiếng bà mẹ êm dịu, ru hồn người con gái đã hơn hai chục tuổi mà chưa rời được mẹ:

- Mẹ thấy xác chết lần đầu tiên khi ông nội của mẹ mất. Cụ nằm như ngủ. Hai bàn tay chắp lại để trên ngực. Hai ngón tay cái được buộc lại bằng nhiều vòng vải trắng. Hai ngón chân cái của cụ để song song cũng được quấn kỹ lưỡng với nhau bằng sợi dây đỏ to bằng chiếc đũa. Ban đêm, cửa phòng để xác chết được khép kín, có mầy người con trai thức canh gác cẩn thận. Chó mèo trong nhà bị nhốt lại.
Mẹ hỏi người lớn lý do gì phải buộc chân tay người mới chết, canh gác ban đêm, và nhốt chó mèo lại. Mẹ được trả lời: “Người mới chết dễ trở thành quỉ nhập tràng nếu có con vật nào nhảy qua. Xác chết sẽ sống lại, đi đứng, chạy đuổi lung tung một chập trước khi ngã xuống chết luôn. Nhà nào có người thảnh quỉ nhập tràng bị coi là vô phước. Buộc chân buộc tay là làm cho xác chết sống lại không cử động được, và người nhà kịp thòi kiềm chế xác chết sống lại đó.”

Tâm ngắt lời mẹ:
- Xác chết cử động được chẳng qua là do điện từ con vật tiếp xúc quá gần với cơ thể làm gia tăng cường độ nhân điện còn rớt lại ở thành ngoài tim. Cơ tim co giật, làm cơ thể hoạt động trở lại trong khoảng thời gian ngắn. Xác chết cử động, nhưng chẳng còn ý thức được gì hết. Không phải ma quỉ đâu, mẹ à!
Bà mẹ vẫn kể đều đều:
- Tùy từng trường hợp chết mà quỉ nhập tràng phát tác khác nhau. Lành nhất là chết bệnh, chết già. Các loại xác chết khác, như chết vì tự tử, tai nạn, trúng gió, bị ám sát, tàn sát, vân vân…, đều có thể thành quỉ nhập tràng dữ dằn hơn kém khác nhau.
Tâm hỏi, giọng hơi giễu cợt:
- Dữ dằn như thế nào hở mẹ?
- Quỉ nhập tràng thứ dữ rất mạnh, đuổi bắt người ta, làm cho người ta sợ quá bị mất trí hoặc đừng tim mà chết. Tuy nhiên, như vậy chưa dữ lắm đâu, con ạ.
- Có loại quỉ nhập tràng dữ hơn thế, hở mẹ? Dữ nhất là loại nào, mẹ có biết không?
Bà mẹ ngần ngừ, rồi nói:
- Người bị cưỡng hiếp chết mà thành quỉ nhập tràng là loại quỉ dữ nhất. Xác có quỉ nhập tràng nhập vào sẽ rất mạnh, đuổi theo, bóp chết người ta. Dao, búa, súng đạn không làm gì được.
Chiều hôm đó, Tâm vào bệnh viện, kể cho Nhân nghe những điều mẹ nàng cho biết buổi sáng. Nhân nghe xong, bào người yêu:
- Chắc mình thôi không chơi nghịch kiểu đó nữa, em ạ.
Tâm lắc đầu quầy quậy:
- Cứ chơi. Sợ gì. Anh mà bỏ cuộc là em giận đấy!
Nhân nhìn vào mắt Tâm, nói nhỏ nhưng quyết liệt:
- Chơi như vậy ác lắm, em ạ. Mình chấm dứt đi.
Tâm vùng vằng:
- Đâu còn tri giác, cảm giác nữa mà ác! Em cứ chơi. Anh không chơi, em sẽ kiếm người khác chơi với em.

Nói rồi, Tâm quay ngoắt đi, bỏ Nhân lại một mình. Chàng lắc đầu, thở dài ngao ngán. Quá thương người yêu, cuối cùng Nhân phải chiều theo ý nàng. Tuy nhiên, chàng cố tình cho nàng biết trễ những xác chết trong bệnh viện. Hơn nữa, chàng đập tay vào lưng con mèo mạnh hơn mọi khi, cho nó nhảy vọt cao quá khoảng tiếp xúc cần thiết để truyền điện cho xác chết. Kết quả là những xác chết đó không thành quỉ nhập tràng được.
Sau vài lần, Tâm để ý. Nàng bắt bẻ, ra lệnh cho người yêu:
- Anh chậm chạp và làm ăn không chính xác chút nào! Anh phải canh chừng phòng cấp cứu và nhà xác, để biết sớm những bệnh nhân hoặc nạn nhân qua đời. Anh phải vỗ thế nào cho con mèo nhảy sát vào xác chết mới được.

Trong các phiên trực đêm sau đó, hai sinh viên nghịch ngợm không có dịp gặp xác người mới chết. Tâm là người sốt ruột nhiều nhất. Một buổi tối, xe cứu thương chở vào bệnh viện nhiều nạn nhân của tai nạn xe hơi dồn cục trên xa lộ. Trong số các người bị thương, có ba người lần lượt tắt thở vào lúc nửa đêm. Thi thể họ được mang vào nhà xác để. Ngoài cửa nhà xác có bàn giấy của người canh gác. Tâm và Nhân vẫn kiếm được chìa khóa, lẻn vào trong bằng chiếc cửa xép ở cuối nhà xác. Dưới ánh đèn neon nhợt nhạt của căn nhà xác lạnh bốn độ bách phân, các xác chết được phủ khăn trắng. Riêng ba cái xác chết vì tai nạn nằm song song trên ba chiếc giường sắt gần cửa lớn ra vào. Giường này cách giường kia độ nửa thước. Tâm mở khăn chùm xác ra. Đó là hai xác đàn ông và một xác đàn bà. Cả ba chỉ mang chiếc quần lót trên mình. Mặt mũi họ bị xẻ ngang xẻ dọc, máu đọng bê bết. Thân mình họ giập nát khắp nơi. Tứ chi vẫn còn nguyên.

Nhân định cho con mèo nhảy qua từng xác chết. Nhưng con vật nhảy vọt trên xác thứ nhất sang bụng xác thứ hai. Nó kêu lên hai tiếng, nhảy từ bụng xác thứ hai qua giường xác thứ ba, xuống đất, chạy ra cửa, chui qua hai cánh cửa hé mở, biến trong hành lang. Người gác bên ngoài mở cửa ngó vào. Nhân và Tâm ngồi thụp xuống. Ba cái giường rung động ken két. Ba cái xác choàng dậy, tụt xuống đất, lật đật bước ra phía cửa, ba cặp tay giơ lên cao.
Người gác hết hồn, lùi lại, la thất thanh:

- Ai kia? Đứng cả lại!
Ba cái xác vẫn tiếp tục lô nhô bước tới. Người gác lùi lại, đóng sập cửa, hai tay hết sức giữ chặt hai cánh cửa. Một sức mạnh ghê gớm đẩy tung hai cánh cửa đập ngược vào tường bên ngoài rầm rầm. Người gác té lộn dưới sàn gạch. Ông ta vội trỗi dậy nhìn lên. Ánh đèn hành lang sáng choang chiếu rõ mặt mũi, hình hài gớm ghiếc của ba con quỉ nhập tràng. Ông gác nhà xác lồm cồm đứng lên, chạy bán sống bán chết về cuối hành lang. Ba con quỉ huỳnh huỵch chạy theo. Người đàn ông vừa chạy vừa hô hoán:
- Cứu tôi! Cứu tôi!

Vài y tá, bác sĩ hiệp với người gác bệnh viện xông ra cản lối. Họ đều bị ba con quỉ đẩy văng vào tường. Chúng đuổi theo người gác nhà xác, dồn ông ta vào hành lang nhỏ cuối cùng dẫn ra sân bệnh viện. Cửa kính đóng chặt. Ông ta không thoát được. Ông quay lại, trợn đôi mắt thất thần trước ba con quỉ đang sấn tới. Sáu bàn tay cong queo chĩa vào mặt nạn nhân. Ông gác nhà xác chợt phá lên cười, rồi òa lên khóc thảm thiết. Ông đã phát khùng vì quá sợ. Người đàn ông đáng thương sụp xuống, dựa lưng vào cửa kính. Ba con quỉ vây kín người ấy. Chân chúng quỵ xuống từ từ. Ba thân hình trần trụi, phô bày ba cái lưng giập nát, máu đọng tím bầm. Bất động.
Các y tá, bác sĩ và người gác bệnh viện ào ào chạy tới. Họ kéo ba xác chết sang một bên, lôi ông gác nhà xác ra khỏi đống thịt nhày nhụa. Ông ta mặt mũi nhợt nhạt, hai chân tay co giật liên hồi. Nhân viên bệnh viện vội khiêng ông ta vào phòng cấp cứu. Ba cái xác chết cũng được mang trở lại nhà xác, cột chặt vào giường.
Từ đàng xa, Tâm và Nhân đứng yên như tượng gỗ. Họ bắt đầu ân hận. Nhưng đã quá trễ. Bệnh viện đã náo loạn. Người gác nhà xác đã phát khùng. Ban giám đốc cho điều tra để biết nguyên do sự việc xảy ra.

Lợi dụng không khí lộn xộn của bệnh viện, hai người cởi áo blouse, lẻn ra khỏi bệnh viện, mặc dầu mới ba giờ sáng. Nhân chở Tâm trên chiếc mô- tô, hướng về khu bờ biển. Họ không đội mũ dành cho người chạy xe gắn máy. Đường ban đêm vắng tanh, đèn đường vàng khè chiếu ánh mờ nhạt xuống mặt đường. Hai bên đường là cây cối um tùm che khuát những căn nhà tối om. Chợt hai người thấy tiếng xe gắn máy rồ mạnh xung quanh. Họ bị bao vây bởi một đám người cưỡi xe gắn máy, mặc quần áo da đen bóng, đầu đội mũ che kín mặt. Xe của Nhân và Tâm bị kềm cho đứng lại. Nhân nhảy xuống xe, định chống cự, bị một tên cao lớn đấm túi bụi, ngã xuống đất ngất đi. Hai tên du đãng lực lưỡng liệng Nhân và cái xe mô- tô vào bụi rậm bên đường. Tâm sợ quá, không kêu lên được. Nàng bị hai tên khác hùng hổ kéo bắt ngồi sau một xe gắn máy to nhất đám với giàn đèn rất đặc biệt. Một tên nói tiếng Anh pha giọng ngoại quốc:
- Ngồi yên, theo bọn tao. Không sẽ chết!

Chúng đưa Tâm vào một căn nhà cũ tối om. Một đứa bấm đèn pin soi lối. Nàng bị ép bước trên các bậc thang, leo lên bốn tầng lầu. Ở đó, trong một gian phòng rộng, có lẽ là ổ của bọn du đãng, đèn bật sáng lên. Điện đã được câu trộm từ cột đèn ngoài đường vào. Cả bọn bỏ mũ, cởi bao tay và áo dạ Tâm nhìn rõ mặt từng đứa. Chúng không phải người Á châu. Tên cao lớn nhất đám xua tay cho sáu tên khác đi ra chờ tại một phòng ở tít đằng xa. Nó hầm hè bảo Tâm:
- Mày phải để yên cho tao làm.
Tâm lấy hết ca đảm nói:
- Anh làm xong, thả tôi đi nhé.
Tên kia lắc đầu, chỉ đám bạn đứng đàng xa:
- Phải cho cả bọn kia nữa.
Tâm chợt thấy cơn giận nổi lên trộn với niềm thất vọng, oán thù vô bờ bến. Nàng vùng vằng, định quay đi. Tên kia nắm lấy hai vai nàng, đẩy mạnh cho té ngửa xuống sàn nhà. Nó nói qua kẽ răng:
- Mày chống cự cũng bị cả bọn tao làm, rồi bị đập cho chết. Nằm yên sẽ sống!

Tâm nhắm mắt. Trong đầu nàng đã có quyết định tàn khốc cho cuội đời nàng. Nàng giả vờ ngoan ngoãn gật đầu. Tên kia yên trí cưỡng hiếp nàng. Xong, nó đứng lên đi ra ngoài gọi đồng bọn, để Tâm nằm một mình. Nàng chờ nó đi ra cuối gian nhà rộng cách đó chùng hai chục thước. Nàng vùng dậy, chạy lẹ ra một cửa sổ. Nàng leo lên thành cửa, đâm đầu xuống dưới hè đường đầy gạch bể vụn ngổn ngang. Đầu nàng xuống trước, đập mạnh lên đống gạch. Thân hình nàng lăn ra bất động. Bọn du đãng từ trên cao nhô đầu nhìn xuống. Chúng tắt đèn, xuống đường, nhảy lên xe, đi mất.

Trong đêm tối, xác của Tâm với bộ mặt đẫm máu, nằm trơ trọi trên đống gạch. Có tiếng mèo gào thảm thiết. Tiếng chuột kêu chí chóe. Bóng con chuột to tướng bị con mèo trắng đuổi từ căn nhà cũ chạy ra. Con chuột nhảy qua xác chết của cô gái Á châu. Con mèo vọt tới, dẫm lên ngực xác chết, chạy theo con chuột. Xác của Tâm đứng dựng ngay lên như người máy vừa bị giật điện. Cô gái đã thành một con quỉ nhập tràng dữ dội, quái đảng nhất trong huyền sử loại quỉ này.

Con quỉ mang tên Tâm giơ tay vuốt mái tóc bẹ bết máu. Nửa người trên của nó còn mặc áo vest đen thêu bông vàng. Nửa người dưới không một mảnh vải che thân. Nó quay người, đi trở lại căn nhà cũ, trèo bốn tầng lầu, đến gian phòng lúc nãy. Lần tay bật đèn, con quỉ kiếm dưới đất chiếc quần lót và quần tây mặc vào người. Mắt bên trái lòi ra, đeo lủng lẳng dưới mi mắt nhắm nghiền. Mắt bên phải còn nguyên, long lanh ánh đỏ sáng khác thường. Chiếc mũi vẹo sang một bên. Đôi môi vêu ra như hai miếng tiết heo, để hở hai hàm răng gãy nhiều cái. Hai gò má gồ cao. Một bên tai còn chiếc khoen vàng. Con quỉ soi bóng trước mảnh gương bể gắn trên tường. Nó rên lên một tiếng đầy oán giận.
Ánh rạng đông le lói bên ngoài cửa sỗ. Có tiếng người lao xao dưới nhà. Con quỉ Tâm bước ra cửa sổ ghé con mắt còn lại nhìn xuống. Bọn du đãng trở lại và đang tìm kiếm, bàn tán om xòm.

- Chắc nó tỉnh dậy, đi mất rồi. Bằng không thì phải còn ở đây chứ. Như vậy càng tốt. Thôi, ta lên lầu ngủ đi. Thằng Tomaten về sau, ngủ sau.
Cả bọn khóa xe, lục tục lên lầu. Con quỉ Tâm đứng nấp sau một cánh cửa. Sáu thằng cởi mũ, găng tay, áo da, giầy bottes. Mỗi tên kiếm một góc có sẵn nệm và mền, lăn ra ngủ. Như vậy còn thiếu thằng đầu đàn, là tên đã cưỡng hiếp cô gái vô phước. Con quỉ Tâm rời chỗ nấp, bước nhẹ lại gần đứa thứ nhất. Nó khom lưng, giơ bàn tay trái bóp cổ tên du đãng đang ngủ. Tên này mở mắt, há miệng kêu không thành tiếng. Chụm bàn tay mặt lại như cái muỗng khổng lồ cứng như thép nguội, con quỉ thọc năm ngón tay qua sọ của tên du đãn, lật một mảnh xương, móc ra nguyên bộ óc còn tươi vứt xuống sàn nhà. Năm tên kia cũng chịu chung số phận. Chúng bỏ mạng trong âm thầm, mang cái đầu trống rỗng.

Con quỉ Tâm đứng lên, rít mấy tiếng đắc thắng. Nó chợt nhìn quanh, rồi rên một tiếng đầy giận dữ. Còn thiếu tên thủ phạm. Con quỉ bước ra cửa sổ đứng chờ. Nhân tỉnh dậy khi trời còn nhá nhem. Chàng vuốt tóc, sửa quần áo, đứng lặng yên cho hoàn hồn. Thấy có một mình, chàng biết ngay người yêu đã bị nạn. Chàng dựng chiếc xe mô- tô, ngồi lên xe đạp máy đi, đi vào tỉnh khai với cảnh sát cho họ điều tra, tìm kiếm người con gái bị du đãng bắt cóc. Đoạn, chàng tới nhà Tâm báo tin dữ cho mẹ của nàng. Người mẹ đau khổ khóc lóc, vật vã, chết đi sống lại. Sau cùng, bà mặc quần áo, ra chợ Á châu mua vàng hương lên chùa cầu xin Trời Phật cứu mạng con gái bà. Bà van xin cả những linh hồn của các xác chết bị con gái bà cùng tình nhân nghịch ngợm làm thành quỉ nhập tràng. Nhân đến thăm mẹ của người yêu nhiều lần để an ủi bà ta.

Chàng nói:
- Con cũng có lỗi cùng với em Tâm nghịch ngợm xác chết của người ta. Nhưng con nhiều lần bàn với em Tâm chấm dứt trò chơi đó, mà em Tâm không chịu, còn dọa bỏ con tìm người khác chơi trò quỉ quái. Bây giờ, bác cũng như con phải chờ kết quả của nhà chức trách.
Cảnh sát khám phá ra căn nhà bỏ hoang ở tỉnh bờ biển Bắc Âu. Họ thấy sáu cái xe gắn máy khóa để dưới nhà. Trên một căn lầu, họ khám phá ra sáu xác chết bị moi óc. Nhưng họ không thấy bóng dáng người con gái bị bắt cóc đâu, mà cũng chưa biết nguyên nhân của sáu cái chết ghê gớm kia. Cuộc điều tra cùng công tác tìm kiếm vẫn tiếp tục.

Ban ngày, con quỉ Tâm lẩn khuất trong hốc đá của mỏm núi sát biển. Ban đêm nó mò ra tìm kiếm kẻ thù. Đó là thằng du đãng mang tên Tomaten. Thằng này có cái mũi thấp, nhọn, cặp mắt nhỏ gần nhau, cái trán ngắn, đôi môi dày và mái tóc đen cứng như rễ tre. Sau nhiều ngày quanh quẩn tìm kiếm, con quỉ Tâm không gặp tên kia để trả thù. Nó giận dữ, gầm rít điên cuồng mỗi khi đứng trong gian nhà, nơi mà nó đã bị cưỡng hiếp và nhảy lầu tự vẫn. Linh giác còn lại chỉ đủ cho con quỉ nhớ khuôn mặt kẻ thù để tìm kiếm.

Tên Tomaten biệt dạng. Có lẽ nó đi sang một nước khác, hoặc đã bị băng đãng nào đó thanh toán. Một buổi tối mưa gió, bóng hai người đội mũ che kín mặt, mặc quần áo đen, cưỡi chiếc xe gắn máy rất to với giàn đèn đặc biệt chạy tới đậu xe trước căn nhà cũ gần khu bờ biển. Tên kia nhỏ bé. Hai tên theo nhau bước vào căn nhà, leo thang lên lầu bốn. Vừa giơ tay bật đèn trong gian nhà rộng, tên cao lớn bị hai bàn tay cứng như sắt quật ngã xuống sàn gạch. Không kịp kêu lên, tên đó bị kẻ tấn công thọc tay vào bụng, lôi mớ ruột gan, vứt ra xa. Tên nhỏ bé quay phắt đi, chạy ra cầu thang, lao xuống như tên. Tên cao lớn nằm giãy giụa, đầu kẹt trong cái mũ bằng nhựa kín mít. Khi nó nằm bất động, kẻ tấn công, tức là con quỉ Tâm, lột mũ của nó ra. Đó là một tên lạ mặt, mắt trợn trắng, mồm há hốc! Tên này chết oan vì đã sử dụng xe gắn máy của tên Tomaten, không biết vì lý do gì. Con quỉ Tâm vùng đứng lên, ngửa mặt, khuôn mặt gớm ghiếc, rít lên mấy tiếng đầy thật vọng.

Tin tức nói về một người phái nữ, xấu như quỉ, mặc áo vest đen thêu bông vàng, quần tây, có sức mạnh khủng khiếp, đã hạ sát một thanh niên trong căn nhà cũ gần bờ biển bằng cách móc hết ruột gan, làm chấn động dư luận của cái tỉnh nhỏ bờ biển Bắc- Âu. Cảnh sát tới nơi, bắc loa kêu gọi. Họ thấy người con gái xuất hiện trong khung cửa sổ với bộ mặt quái dị. Một cảnh sát chĩa súng bắn nhiều phát vào cô ta, nhưng cô ta không hề hấn gì. Cảnh sát thay phiên bao vây căn nhà đó đã năm ngày, nhưng chưa ai dám vào trong.

Nhân nghe tin, đến gặp mẹ của Tân. Chàng cho bà ta biết tin, rồi bàn:
- Chiếc áo vest đen thêu bông vàng là món quà sinh nhật của con tặng em Tâm. Như vậy là em Tâm đạ bị bọn du đãng hãm hại cho đến chết. Xác của em Tâm trở thành quỉ nhập tràng thứ độc dự nhất. Con và bác hãy tới đó tìm cách giải thoát cho linh hồn em Tâm khỏi thân xác quỉ nhập tràng.
Hai người vội vàng đi tới phạm trường. Sau khi trình bày với vị chỉ huy cảnh sát. Nhân và bà mẹ của Tâm được phép lên lầu. Họ thấy con quỉ Tâm ngồi dưới đất tựa lưng vào tường. Nó rít lên một tiếng thảm não khi thấy hai người. Bà mẹ lấy hết can đảm tiến lại gần. Bà ngồi thụp xuống bên cạnh, nhìn con âu yếm, giơ hai bàn tay vuốt tóc, sờ má, nắm hai tay con. Cử chỉ này bà đã từng làm bao nhiêu năm nay với Tâm. Con quỉ hé nụ cười thỏa mãn, nhắm mắt lại.
Nhân vội bước tới, ngồi một bên người yêu cũ, đặt vào tay nàng tấm khăn có nước hoa Fahrenheit. Con quỉ đưa khăn lên mũi. Nó rên rỉ nho nhỏ mấy tiếng mang âm thanh quái đảng vọng lên từ âm phủ nghe phảng phát mấy lời trăn trối:
- Mẹ ơi!… Anh ơi!…
Con quỉ cùng hai người trần ngồi yên như ba tượng gỗ. Cõi chết mang theo hai hình ảnh. Cõi sống mất hẳn một oan hồn. Sau đó là sự im lặng hoàn toàn.